Tiêu luận về dân chủ và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở việt nam

Ngay từ khi thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định con đường mà cách mạng Việt Nam phấn đấu là con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội (CNXH). Đó chính là con đường mang đến độc lập, tự do, công bằng, dân chủ, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội mà toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã, đang và sẽ tiếp tục nhất quán, kiên trì xây dựng. Kế thừa và phát triển các quan điểm tiến bộ về dân chủ trong lịch sử tư tưởng nhân loại, chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tác phẩm của Tổng Bí thư đã luận giải, làm sáng rõ, phát triển, hoàn thiện lý luận, thực tiễn vấn đề dân chủ trong xã hội XHCN mà nhân dân ta hướng tới, được thể hiện khái quát ở những nội dung cụ thể sau đây: Trong tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định quan điểm xuyên suốt của Đảng ta, đó là “Chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam” và “xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”.

Đất nước ta đang tập trung phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có đặc trưng cơ bản và thuộc tính quan trọng là “phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển”. Đồng thời, chúng ta coi “văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; xác định phát triển văn hóa đồng bộ, hài hòa với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội là một định hướng căn bản của quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam”.

Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta đều xuất phát từ Nhân dân, vì lợi ích của Nhân dân và lấy hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu phấn đấu.Đồng thời “Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ”. Dân chủ là bản chất của chế độ XHCN, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng CNXH; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về Nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam. Chúng ta chủ trương không ngừng phát huy dân chủ, đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”. Theo đó, Nhà nước đại diện cho quyền làm chủ của Nhân dân và có cơ chế để nhân dân thực hiện quyền làm chủ trực tiếp và dân chủ đại diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tham gia quản lý xã hội.

Với phương pháp khoa học biện chứng, tư duy hệ thống, trình bày logic, dung dị, Tổng Bí thư đã phân tích, hệ thống hóa, có những quan điểm, tư tưởng, nhận thức mới mang tính lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH, trong đó dân chủ xã hội là một trong những vấn đề cốt lõi, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội XHCN, vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể Việt Nam, xây dựng một xã hội tất cả là nhằm mục tiêu phát triển con người, vì cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân, sự phát triển bền vững.

Thực tiễn hiện nay cho thấy, những mục tiêu mà Đảng, Nhà nước ta đề ra trong việc xây dựng CNXH nói chung và phát huy dân chủ XHCN nói riêng đã và đang từng bước được hiện thực hóa. Quần chúng nhân dân tại các địa bàn trong cả nước luôn nhận được sự quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi nhất để phát triển và được bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của mình.Tuy nhiên, trong quá trình ấy, nước ta cũng thường xuyên phải đối mặt với các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trong và ngoài nước. Phương thức, thủ đoạn của chúng ngày càng tinh vi, xảo quyệt, quyết liệt và trắng trợn hơn. Hoạt động có lúc âm thầm, lẩn khuất, có lúc công khai, thách thức, chủ yếu tập trung vào thời điểm diễn ra các sự kiện chính trị trong nước, sự kiện đối ngoại quan trọng của Đảng và Nhà nước ta, hoặc thời điểm xảy ra các vụ, việc phức tạp, nhạy cảm. Các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị luôn triệt để lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo”, “phòng, chống tham nhũng”… để can thiệp vào công việc nội bộ của đất nước. Chúng ra sức nhào nặn, bóp méo thông tin, tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận các giá trị lý luận – thực tiễn và thành quả về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, nói xấu chế độ XHCN, vu cáo Nhà nước ta vi phạm dân chủ, nhân quyền… Cán bộ, đảng viên, nhân dân cần nhận diện, tăng cường đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch, làm thất bại “diễn biến hòa bình” chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Theo Báo Công an nhân dân

A. MỞ ĐẦU1. Lý do chọn đề tàiLý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng , không xây dựng và phát triển nềndân chủ nhà nước xã hội chủ nghĩa thì không thể thực hiện quyền lực, quyền dân chủ,quyền làm chủ và mọi lợi ích của nhân dân lao động trên thực tế các lĩnh vực của đờisống xã hội trong tiến trình cách mạng xã hộ chủ nghĩa ở Việt Nam .Thực ra từ trước đến nay ở nước ta chưa có một công trình nào nghiên cứu cóhệ thống về nền xã hội chủ nghĩa cả mà thường chỉ mới bàn về dân chủ, quyền làmchủ, bản chất và mục tiêu của chế độ, nhưng về thể chế nhân dân, cơ chế dân chủ chotừng mặt hay toàn bộ nền dân chủ là chưa đủ mức . Chúng ta lại thường nói phát huydân chủ xã hội chủ nghĩa nhưng thế nào là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa thì cũng phảibàn.Trong bài tiểu luận này sẽ trình bày về vấn đề Thực trạng xây dựng nền dân chủtrong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.Chúng ta sẽ đi luậntừng vấn đề nhỏ, từng khía cạnh để hiểu rõ những bản chất, đặc điểm, chức năngnhiệm vụ… của những vấn đề nêu trên. Vấn đề đầu tiên cần nghiên cứu là lý luậnchung về dân chủ theo quan điểm chủ nghĩa Mác Leenin.2. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu2.1. Mục đích nghiên cứuPhân tích những nội dung cơ bản theo chủ nghĩa Mác leenin và tư tưởng Hồ ChíMinh về quá trình xây dựng , đổi mới cách thức quản lý nhà nước lên chủ nghĩa xãhội.2.2. Nhiệm vụ nghiên cứuPhân tích cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh vềnền dân chủ trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa ; Làm rõ quá trình phát triểnnhận thức của Đảng về quá trình quản lý và đổi mới lên nền dân chủ xã hội chủ nghĩasau gần 30 năm.2.3. Phạm vi nghiên cứu1chủ nghĩa Mác – Leenin và tư tưởng Hồ Chí Minh về những đặc trưng của nềndân chủ và Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng sáng tạo tư tưởng của Bác trong việcđổi mới tiền để cho việc CNH – HĐH, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.3. Ý nghĩa của đề tài4. Phương pháp nghiên cứuLuận án sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủnghĩa Mác – Leenin và một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như: hệ thống, lôgíc vàlịch sử; phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh; quy nạp và diễn dịch, v.v…2B. NỘI DUNGCHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ DÂN CHỦ THEO QUAN ĐIỂMCHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN1.1. khái niệm dân chủ xã hội chủ nghĩaQuan điểm của đảng ta về dân chủ xã hội chủ nghĩa thể hiện xuyên suốt trongtất cả các nội dung trong văn kiện Đại hội XI ,là hệ thống quan điểm hoàn chỉnh vàtoàn diện về những vấn đề cơ bản của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.Đảng a không những chỉ rõ bản chất tốt đẹp, tính chất ưu việt mà còn khẳng định tầmquan trọng của dân chủ xã hội chủ nghĩa với tư cách vừa là mục tiêu, vừa là động lựccủa sự phát triển đất nước; chỉ ra nhưng nguyên tác, yêu cầu, biện pháp cơ bản xâydựng , những lực cản chủ yếu của việc xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩatrong tình hình mới và giải pháp khắc phục.Dân chủ xã hội chủ nghĩa là chế độ dân chủ được xác lập ở các nước đã hoànthành cách mạng dân tộc, dân chủ và bắt đầu tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa.Dân chủ xã hội chủ nghĩa là nề dân chủ khác hẳn về bản chất và đối lập vềnguyên tắt với dân chủ tư sản . Điều đó thể hiện trên những vấn đề chính yếu sau: thứnhất, dân chủ xã hội chủ nghĩa chỉ xuất hiện khi giai cấp công nhân và nhân dân laođộng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, giành được chính quyền và ngày càng pháthuy trong quá trình xây dựng xã hội mới; thứ hai, dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dânchủ do Đảng cộng sản lãnh đạo; thứ ba, dân chủ xã hội chủ nghĩa là dân chủ của đa sốvà người lao động , vì đa số và người lao động không phải của thiểu số bóc lột , đặcquyền, đặc lợi;thứ tư, dân chủ xã hội chủ nghĩa là chế độ dân chủ, mà ở đó nhân dânlao động làm chủ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội được phát luật bảo đảm;thứ năm, dân chủ xã hội chủ nghĩa được thực hiện bằng hệ thống tổ chức thể hiệnquyền lực chính trị-xã hội của nhân dân, tập trung và thong qua nhà nước; thứ sáu,không ngừng mở rộng dân chủ gắn với tang cường kỷ cương , pháp luật của quy luậtcơ bản của sự phát triển dân củ xã hội chủ nghĩa . Đó là bản chất tốt đẹp của xã hộichủ nghĩa . Đó là chế độ dân chủ “ gấp triệu lần” hơn bất cứ chế độ dân chủ nào tronglịch sử như V.L Leenin từng khẳng định3Đặc trưng của dân chủ xã hội chủ nghĩa là quyền dân chủ của công dân khôngngừng được mở rộng trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của nhà nước, của xã hội màcơ bản nhất là dân chủ về kinh tế. Trên lĩnh vực chính trị xã hội, quyền tham gia quảnlí nhà nước của nhân dân và các đoàn thể quần chúng ngày càng được mở rộng vềphạm vi, về độ sâu và phong phú đa dạng về các hình thức. Mục tiêu của dân chủ xãhội chủ nghĩa là nhằm xóa bỏ tệ nạn người bóc lột người và tạo ra ngày càng nhiềuđiều kiện để thực hiện triệt để công bằng xã hội, công lí cho mọi người, bình đẳng thựcsự giữa nam và nữ, giữa các dân tộc, tạo cơ hội cho mọi công dân mưu sinh và mưucầu hạnh phúc . Dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ của xã hội loài người tiến bộtrong tương lai.1.2. Đặt trưng dân chủ xã hội chủ nghĩaNền dân chủ xã hội chủ nghĩa là một tập hợp các thiết chế nhà nước , xã hộiđược xác lập, vận hành và từng bước hoàng thiện nhằm đảm bảo thực hiện trê thực tế ,ngày càng đầy đủ các quyền lực chính trị của giai cấp công nhân , của giai cấp và cáctầng lớp nhân dân khác và của toàn xã hội. Đặc trưng cơ bản của nền dân chủ của xã hội chủ nghĩa :Thứ nhất , nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ mang tính lịch sử.Mọi nền dân chủ điều mang tính lịch sử , bởi nó ra đời trong những điều kiện vàtiền đề chính trị xác định , tồn tại biến đổi trong mối quan hệ biện chứng với những cơsở kinh tế – xã hội, chính trị – xã hội xá định . Trong đó, những lợi ích chính trị cơ bảncủa giai cấp công nhân giữ vai trò chi phối , quyết định đến bản chất , các hình thái vàphương thức thực thi quyền lực chính trị chủ yếu của nền dân chủ .Nền dân chủ xã hộichủ nghĩa ra đời là sản phẩm tất yếu của cuộc đấu tranh về tay giai cấp nhân dân , xáclập bộ máy nhà nước của nhân dân do đảng cộng sản lạnh đạo.Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa tất yếu trải qua các giai đoạn cơ bản như sau:Trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, các điều kiện tiền đề của chủ nghĩa cộng sảnđực từng bước sát lập và củng cố, theo đó, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa cũng từngbước tự phủ định mình , từng bước tự tiêu vong.Thứ hai , nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ mang bản chất giaicấp của giai cấp công nhân , đồng thời là nền dân chủ đại chúng, dân chủ cho đại đasố.4Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ mang bản chất giai cấp côngnhân , là nền dân chủ đại chúng , cho đại đa số nhân dân lao động.Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa có sứ mệnh thủ tiêu chủ nghĩa tư bản, xây dựngchủ nghĩa cộng sản, được xây dụng trên cơ sở phát huy, thể hiện ngày càng đầy đủ,trên thực tế quyền dân chủ của nhân dân mà nồng cốt là liên minh của giai cấp côngnhân với quảng đại quần chúng nhân dân lao động. Cùng với quá trình cách mạng xãhội chủ nghĩa và quá trình xây dựng nề dân chủ , khối liên minh này ngày càng đôngđảo, ngày càng trở thành nề tảng của giai cấp công nhân. Đó chính là động lực xã hộicơ bản của cách mạng xã hội chủ nghĩa và là chủ thể của nền dân chủ xã hội chủ nghĩaThứ ba, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ có tính chất dân tộc,đồng thời lại mang tính nhân loại.Nền dân chủ có tính dân tộc bởi nền dân chủ xã hội chủ nghĩa được xâydựng trước hết trong lòng từng quốc gia dân tộc, trên cơ sở văn hóa xã hội chủ nghĩavới nội dung tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc .Điều đó thể hiện trước hết ở chỗ, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa được xây dựngtrên các lập trường , nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Leenin, hệ thống lý luậncách mạng – khoa học , phản ánh một cách đúng đắn, chính xác vai trò sứ mệnh lịch sửtoàn thế giới của giai cấp công nhân.Thứ tư, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ cuối cùng trong lịch sử là nền dân chủ tự tiêu vong.Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là sản phẩm tất yếu của cuộc cách mạng xã hộichủ nghĩa do chính đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo.Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ấy thống nhất về lợi ích chính trị của giai cấpcông nhân với lợi ích chính trị của nhân dân lao động, với dân tộc và toàn xã hội.Trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhân dân tha gia vào quản lý nhà nướcngày càng nhiều và càng có hiệu quả.1.3. Tính tất yêu của việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩaXây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là quá trình tất yếu của sự nghiệp xâydựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa mác-leenin thì động lực của quá trìnhphát triển xã hội ,của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội là dân chủ. Dân chủ phảiđược mở rộng để phát huy cao độ tính tích cực, sáng tạo của nhân dân , để nhân dân5tham gia vào công việc quản lí nhà nước, quản lí và phát triển xã hội “ với việc pháttriển dân chủ một cách đầy đủ, nghĩa là việc làm cho toàn thể quần chúng nhân dântham gia thực sự bình đẳng và thực sự rộng rãi vào mọi việc quả lí nhà nước”.Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa cũng là quá trình vận động và thựchành dân chủ , là quá trình vận động biến dân chủ thành hiện thực trong lĩnh vực đờisống xã hội, là quá trình đưa các giá trị, chuẩn mực, nguyên tắc của dân chủ vào thựctiễn xây dựng cuộc sống mới. xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là quá trình tấtyếu diễn ra nhằm xây dựng ,phát triển và hoàn thiện dân chủ, đáp ứng nhu cầu củanhân dân. trước hết, nó trở thành điều kiện, tiền đề thực hiện quyền lực, quyền làmchủ của nhân dân, là điều kiện cần thiết, tất yếu để mọi công dân được sống trong bầukhông khí thực sự dân chủ.xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa chính là thực hiệndân chủ hóa đời sống xã hội dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua Đảngcộng sản. Đây cũng là nhân tố quan trọng chống lại những biểu hiện của dân chủ cựcđoan, vô chính phủ, ngăn ngừa mọi hành vi coi thường kỹ cương, pháp luật.Tóm lại, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là một quá trình tất yếu củacông cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, của quá trình vận động biến dân chủ từ khảnăng trở thành hiện thực, để nền dân chủ “ ngày càng tiến tới cơ sở hiện thực của nó,tới con người hiện thực, nhân dân hiện thực và được xác định là sự nghiệp của bảnthân nhân dân”.6CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH XÂY DỰNG NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨAỞ VIỆT NAM HIỆN NAY2.1. Qúa trình xây dựng nền dân chủ ở Việt Nam Nội dung chủ yếu của dân chủ xã hội chủ nghĩa ở việt nam. Dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu vừa là động lực trong sự nghiệpcách mạng xây dựng, phát triển chủ nghĩa xã hội ở nước ta.2.1.1. Nội dung chủ yếu của dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt NamDân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất chế độ xã hội mới – xã hội chủ nghĩa.Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là một trong những nhiệm vụ lâu dài và trọngyếu, bảo đảm tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Muốn vây, vấn đề trung tâm là phảixây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực hiện tư bản. Chủnghĩa xã hội cũng cần thực hiện nhà nước pháp quyền. Trong nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa việt nam, quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng có sự phân công rànhmạnh và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quyền lực nhà nước trong việc thực hiệnban quyền lập pháp , hành pháp, tư pháp.Sau gần 25 năm đổi mới, về cơ bản nước ta đã chuyển đổi thành từ mô hìnhkinh tế quan liêu bao cấp sang mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩavà tiến từ dân chủ nhân dân lên dân chủ xã hội chủ nghĩa . Hiện nay đang từng bướcphát triển và hoàn thiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa để tiến lên kinhtế thị trường xã hội chủ nghĩa và xây dưng phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩahướng tới tương lai tốt đẹp.2.1.2. dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu vừa là động lực trong sự nghiệpcách mạng xây dựng phát triển chủ nghĩa xã hội ở nước ta để tiến lên chủ nghĩa xãhộiDân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta , vừa là mục tiêu , vừa làđộng lực của sự phát triển đất nước, xây dựng và tưng bước hoàn thiện nền dân chủ xãhội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Cách mạng ViệtNam từ khi đảng lãnh đạo, bất kì ở gai đoạn lịch sử nào, dân chủ cũng vừa là mục tiêuvừa là động lực cho cách mạng. Nước ta đi theo con đường chủ nghĩa cần xây dựng,phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa vì đây là một mục tiêu quan trọng của cách7mạng . Không có dân chủ thì không có chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội mà khôngthực hiện quyền dân chủ rộng rải trên tất cả các lĩnh vực của đời sống với quảng đạiquần chúng thì chỉ là chủ nghĩa xã hội hình thức.công cuộc đổi mới đất nước , Đảng ta đã chỉ rõ một trong những nguyên tắt cơbản để chỉ đạo đổi mới là xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa để phát huy quyềnlàm chủ tập thể chủ của nhân dân thúc đẩy sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội khôngngừng tiến lên. Trong cương lĩnh xây dựng đất nước ở thời kì quá độ đi lên chủ nghĩaxã hội do đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII thông qua năm 1991 đã ghi “ dân chủ xãhội chủ nghĩa là đảm bảo mọi quyền lực thuộc về nhân dân”. Hiến pháp năm 1992cũng đã khẳng định, tất ả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và phải được thể chếhóa quyền lực đó bằng pháp luật, được pháp luật bảo hộ. Dân chủ gắng liền với kĩ luật,kĩ cương và công bằng xã hội, đòi hỏi phải thực hiện trong thực tế đời sống trên tất cảcác lĩnh vực đời sống xã hội. Trải qua gần 25 năm đổi mới và 20 năm thực hiện cươnglĩnh 1991 , nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã có những bước tiến quantrọng và được thế giới thừa nhận.Để tiến lên chủ nghĩa xã hội , thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đấtnước , mở rộng hội nhập quốc tế , phát triển bền vững, thực hiện thành công mục tiêu:Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh của Đảng đề ra , chúng ta phảicoi trọng phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa vì nó là một mục tiêu cơ bản của quárình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đến lượt nó, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa được pháttriển và hoàn thiện lại trở thành động lực mạnh mẻ thúc đẩy xã hội không ngừng pháttriển . Chủ nghĩa xã hội ở nước ta là chỗ chưa chín muồi đế chín muồi , từ chỗ chưahoàn thiện đến hoàn thiện, từ chỗ chưa phát triển đến phát triển . Qúa trình này cần cóthời gian và môi trường ổn định , đặc biệt là ổn định chính trị , nếu không có sự ổnđịnh thì sẽ không làm được việc gì. Muốn duy trì ổn định xã hội để tiến lên phải pháttriển dân chủ xã hội chủ nghĩa và lấy đó làm động lực thúc đẩy sự phát triển toàn diệnxã hội.2.2. Thực trạng xây dựng nền dân chủ ở Việt Nam hiện nayCách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng có nội dung toàn diện trên tấtcả các lĩnh vực đời sống xã hội. Trên lĩnh vực chính trị:8Nội dung cơ bản của cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực chính trị là đưaquần chúng nhân dân lao động từ địa vì nô lệ ,làm thuê, bị áp bức bóc lột trở thànhngười làm chủ nhà nước , làm chủ xã hội. Muốn thực hiện được nội dung đó, giai cấpcông nhân cùng với nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản phải dùngbạo lực đập tan bộ máy nhà nước của giai cấp tư sản, như C.Mác – ph.Ănghen nói: “Giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thànhgiai cấp dân tộc”.Bước tiếp theo là giai cấp công nhân phải xây dựng một nền dân chủ rộng rảicho nhân dân, đảm bảo cho nhân dân lao động thực hiện đầy đủ quyền làm chủ vềchính trị, tham gia vào cộng cuộc quản lý xã hội, quản lý nhà nước, làm cho nhà nướcthật sự là của dân , do dân và vì dân. Trên lĩnh vực kinh tế:Việc giành được chính quyền về tay giai cấp công nhân và nhân dân lao độngmới chỉ là nhiệm vụ quan trọng bước đầu. Nhiệm vụ trọng tâm có ý nghĩa quyết địnhcho sự thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa phải là phát triển kinh tế; nâng caochủ nghĩa là cuộc cách mạng về kinh tế. Trong điều lệ quốc tế I , C.Mác viết: “ Bất cứcuộc cách mạng chính trị nào cũng chỉ là thủ đoạn để giải phóng giai cấp công nhân vèmặt kinh tế “. Trong hệ tư tưởng Đức, Ông nói: Xây dựng chủ nghĩa cộng sản về thựcchất là xây dựng về kinh tế. Chỉ có giải phóng về kinh tế là cơ sở giải phóng giai cấpcông nhân về mặt tinh thần, làm chủ dược kinh tế mới làm chủ được mặt tinh thần. Trên lĩnh vực văn hóa- tư tưởng:Cách mạng xã hội chủ nghĩa tạo nên sự biến đổi căn bản trong phương thức vànội dung sinh hoạt tinh thần của xã hội theo hướng tiến bộ. Trên cơ sở kế thừa và nângcao các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc , thực hiện việc tiếp thu các giá trịvăn hóa tiên tiến của thời đại để thực hiện việc giải phóng những người lao động vềmặt tinh thần qua việc xây dựng từng bước thế giới quan cộng sản, xây dựng nền vănhóa mới và con người mới XHCN. Vì vậy, trong tuyên ngôn của Đảng cộng sản,C.Mác – Ănghen đã chỉ rõ: “ cách mạng cộng sản chủ nghĩ là sự đoạn tuyệt triệt đểnhất với những quan hệ sở hữu kế thừa của quá khứ; không có gì đáng ngạc nhiên khithấy rằng trong tiến trình phát triển của nó, nó đoạn tuyệt một cách triệt để nhất vớinhững tư tưởng kế thừa của quá khứ”.9Các nội dung trên diễn tả ra đồng thời và có quan hệ mật thiết, tác động , thứcđẩy lẫn nhau đưa đến sự thành công của cách mạng xã hội chủ nghĩa.2.2.1. Lịch sử phát triểnThời kỳ trước đổi mới, nhận thứ về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở việtnam đã đạt được một số nhiều thành tựu bước đầu thể hiện qua phương châm, chiếnlượt gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, nhận thức về con đường đilên chủ nghĩa xã hội ở thời kỳ này còn nhiều hạn chế. Đảng ta chưa nhận thức hếtđược tính phức tạp, khó khăn và lâu dài của thời kỳ quá độ ; chưa xác định nội dung “bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa “, thậm chí đối lập chủ nghĩa tư bản với chủ nghĩa xãhội một cách máy móc theo kiểu phủ định sạch trơn ; tư duy giáo điều, đơn giản vềchủ nghĩa tư bản , đồng nhất bản chất bóc lột, áp bức , nô dịch loài người của chủnghĩa tư bản và chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa với toàn bộ những tiến bộ, văn minhcủa chủ nghĩa tư bản. Điều này đã làm ảnh hưởng lớn đên công cuộc xây dựng chủnghĩa xã hội, đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế – xã hội . Việc giải quyết mốiquan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất còn nhiều hạn chế, yếu kém. Chủtrương “ lấy quan hệ sản xuất tiến bộ mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển” làquan điểm chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan. Nhất là thời kì sau khithống nhất đất nước , do duy trì quá lâu cơ chế tập trung quan liêu bao cấp làm triệttiêu nhiều động lực phát triển đất nước.Trong phương hướng phát triển đất nước , xây dựng chủ nghĩa xã hội đã khôngchú ý đúng đắn đến các lợi ích chính đáng; chưa giải quyết thỏa đáng mối quan hệ lợiích giữa cá nhân – tập thể – xã hội.Nhiều quy luật, đặt biệt là các quy luật về kinh tế trong thời kỳ quá độ đã bịnhận thức sai lệch hoặc quá máy móc, giáo điều. Việc tồn tại hai hình thức sở hữu, haithành phần kinh tế: kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể đã làm triệt tiêu các nguồn lựccần thiết , vốn có trong các thành phần kinh tế tất yếu phải tồn tại trong thời kỳ quá độđi lên chủ nghĩa xã hội.Các vấn đề khác như dân chủ xã hội chủ nghĩa, văn hóa xã hội chủ nghĩa,con người mới xã hội chủ nghĩa còn có nhiều nhận thức mơ hồ, chủ quan, duy ý chí,…Các phương hướng , giải pháp để xây dựng chủ nghĩa xã hội còn chung chung, trừutượng. Vì vậy, trên thực tế chỉ tồn tại ở hình thức, không có nội dung, thực chất . Một10số vấn đề về xã hội như bình đẳng xã hội, công bằng xã hội giữa các tộc người, giữamiền núi với miền xuôi, giữa nông thôn và thành thị… đều có những nhận thức chưađầy đủ. Tính hiệu quả, thiết thực của các chính sách xã hội còn nhiều hạn chế.Để khắc phục những hạn chế nêu trên , bước vào thời kỳ đổi mới, qua các thờikỳ đại hội, nhận thức đúng đắn về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngàycàng sáng tỏ hơn. Những điểm mới trong nhận thức vê chủ nghĩa xã hội và con đườngđi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng ta thời kỳ đổi mới thể hiện trên những nét căn bảnsau:Thứ nhất, nhận thức rõ hơn về thời kỳ đi lên chủ nghĩa quá độ. Tiến trình đổimới của Việt Nam được bắt đầu từ đổi mới tư duy, trước hết là đổi mói tư duy về xãhội va thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hôi.Thứ hai, nhận thức đầy đủ hơn về cách thức bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩatrong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.Thứ ba, về các phương hướng quá đội lên chủ nghĩa xã hội và những vấn đềdặt ra cần phải giải quyết trong xây dựng chủ nghĩa xã hội.Tiếp tục khẳng định đường lối phát triển của đất nước. Đại hội XII của Đảnglàm rõ thêm con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; chỉ rõ “con đường đi lênchủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triểncủa lịch sử. Điểm mới của đại hội XII về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở ViệtNam được thể hiện tập trung vào các vấn đề sau:Một là, tiếp tục kiên định con đường đi lên của xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.Hai là, xác định rõ phương châm “ lấy lợi ích quốc gia – dân tộc làm mục tiêucao nhất”Ba là, xác định ngày càng rõ hơn về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội thôngqua việc xác định lộ trình công nghiệp hóa và mô hình phát triển kinh tế nhằm hướngtới mục tiêu phát triển nhanh và bền vững ở Việt Nam.Bốn là, gắn kết chặc chẽ giữa chính sách kinh tế với chính sách xã hội, giữaphát triển kinh tế với phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.Năm là, về mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, Đảng khẳng định việc thựchiện thành công mục tiêu chủ nghĩa xã hội hơn bao giờ hết, đòi hỏi nhân tố nội lực, vaitrò chủ quan mang tính quyết định. Để làm được điều rất cần tạo dựng mối quan hệgắn bó khắng khít , bền chặt giữa Đảng với nhân dân.11Tóm lại, đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam.Để thực hiện thành công con đường này, về thực tiễn đòi hỏi các cấp, các ngành, cánbộ và nhân dân quán triệt những quan điểm của Đảng, đồng thuận , chung sức, quyếttâm thực hiện tốt những nhiệm vụ trước mắt cũng như lâu dài của đất nước.2.2.2. những hạn chếSự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta được tiến hành trong điều kiệncó những thuận lợi song khó khăn, thách thức rất lớn. Trong hoàn cảnh đó với sự nổlực của toàn Đảng , toàn dân với đường lối đúng đắn, sáng tạo đất nước ta đã giànhđược nhiều hành tựu to lớn. Đại hội VII của Đảng (1996) nhận định “… nước ta đã rakhỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội nhưng còn một số mặt chưa vững chắc. Nhiệm vụđề ra cho chặng đường đầu của thế kỉ quá độ là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước, con đường đi lên của chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càngđược xác định rõ hơn”.Phát huy những kết quả đạt được trong 5 năm qua (1996 – 2000) dưới sự lãnhđạo của Đảng, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng mà đại hội IX củaĐảng đã khẳng định. Kinh tế tăng trưởng khá, tổng sản phẩm GDP trong nước tăng ình quân hằngnăm 7% . Hệ thống kết cấu hạ tầng được tăng cường. Văn hóa xã hội có những tiến bộ , đời sống của nhân dân tiếp tục được cảithiện. Tình hình chính trị – xã hội cơ bản được ổn định, quốc phòng , an ninh đượctăng cường. Công tác xây dựng , chỉnh đốn Đảng được chú trọng , hệ thống chính trị đượccủng cố. Quan hệ đối ngoại không ngừng được mở rộng, hội nhập kinh tế quốc tế đượctiến hành chủ động và đạt nhiều kết quả.Đạt được những thành tựu trên là do Đảng ta có bản lĩnh chính trị vững vàng vàđường lối lãnh đạo đúng đắn, Nhà nước ta có cố gắn lớn trong việc quản lý điều hành;toàn dân tộc đã phát huy lòng yêu nước, tinh thần dũng cảm, đoàn kết nhất trí, cần cù,năng động, sáng tạo.12Tuy nhiên , bên cạnh đó chúng ta vẫn còn có những yếu kém cần được khắcphục.Nền kinh tế phát triển chưa vững chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh thấp. Một sốvấn đề văn hóa xã hội bức xúc và gây gắt chậm được giải quyết. Cơ chế chính sáchchưa đồng bộ, tình trạng tham nhũng, suy thoái ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảngviên là rất nghiêm trọng. Đây là những vấn đề cần phải được nhanh chóng khắc phụcđể đất nước phát triển bền vững.- Bế tắc về mặt tư tưởng. Thực sự, trong nhiều năm qua, Đảng cộng sản đãthành công trong công tác tuyên truyền nhưng không có tiến bộ về nghiên cứu pháttriển tư tưởng. Chỉ biết dùng những kiến thức cũ, về cơ bản là đúng, nhưng ở kỉnguyên mới thì cần nâng cấp mà không nâng cấp nổi.- Yếu kém trong công tác tổ chức. Cho nên, không có được những người xuấtchúng có đủ tâm+tài+lực chỉ huy lãnh đạo. Thành ra quan liêu, tham nhũng ngày càngnhiều. Lãng phí ngày càng tăng. Dẫn đến niềm tin của nhân dân ngày càng suy giảm.- Tình hình kinh tế – chính trị – xã hội -môi trường, khí hậu toàn cầu ngày càngcó nhiều diễn biến bất thường.- Các thế lực thù địch không ngừng chống phá.- Tinh thần đấu tranh của cán bộ, đảng viên thực sự là yếu kém đến mức báođộng. Vì thế cho nên quan liêu, tham nhũng, lãng phí ngày càng tăng mà không làmsao trị nổi.Tóm lại: Đảng có được THIÊN THỜI, ĐỊA LỢI nhưng ngày càng yếu vềNHÂN HÒA.”Thiên thời không bằng địa lợi, địa lợi không bằng lòng dân”.2.3. Những giải pháp để xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam cóhiệu quảTừ năm 1998, các phiên chất vấn với thành viên Chính phủ được truyền hìnhtrực tiếp. Những buổi phát sóng trực tiếp này được nhiều người hưởng ứng, thể hiệnmức độ quan tâm của người dân. Quốc hội cũng thể hiện vai trò của mình, phủ quyếthoặc yêu cầu điều chỉnh lại một số dự thảo luật mà Chính phủ đề xuất. Quốc hội cũngđang đóng vai trò lớn hơn trong việc giám sát các hoạt động của Chính phủ, thông quaviệc theo dõi đơn thư khiếu nại của công dân.Giải pháp nâng cao năng lực thực hành dân chủ đại diện ở nước ta:13Một là, đối với Quốc hộiHai là, lấy phiếu tín nhiệm ở cả Trung ương và cơ sở.Ba là, cần có kết luận về chủ trương bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch Uỷ bannhân dân ở cấp xã và địa phương không tổ chức hội đồng nhân dân.Bốn là, thực hiện việc giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc ViệtNam và các tổ chức chính trị – xã hội đối với đường lối, chủ trương của Đảng, chínhsách, pháp luật của Nhà nước.Năm là, phát triển và “phát huy sự đa dạng về tổ chức và đổi mới phương thứchoạt động của các tổ chức đoàn thể, các tổ chức phi chính phủ… khắc phục tình trạnghành chính hoá các tổ chức quần chúng; phát triển nhiều hình thức tự quản của dânhoạt động theo pháp luật”(3). Thông qua đó “hoàn thiện cơ chế để nhân dân đóng gópý kiến, phản biện xã hội và giám sát công việc của Đảng và Nhà nước”.Một vấn đề nổi cộm hiện nay là ở nơi nào phát triển các tổ chức xã hội theokiểu dân lập, tự quản một cách tự phát thì ở đó có sự thu hẹp vai trò của các tổ chứcchính trị – xã hội, kể cả vai trò quản lý bằng luật pháp của Nhà nước và vai trò lãnhđạo của Đảng. Vì thế, phải nghiên cứu mối quan hệ giữa giám sát, phản biện xã hộicủa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội trong hệ thống chínhtrị với sự phát triển khi có những phát triển của các tổ chức dân sự, trong đó, cần đặcbiệt chú ý tới nguy cơ làm suy yếu hệ thống chính trị, đặc biệt vai trò lãnh đạo củaĐảng. Đồng thời, cần định hướng và điều tiết các luồng tư tưởng, ý kiến khác nhautrong xã hội vào hệ thống giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Namvà các tổ chức chính trị – xã hội thuộc hệ thống chính trị trong điều kiện một Đảngcầm quyền.Tuy nhiên, cũng cần khắc phục một số vấn đề về năng lực chuyên môn củađội ngũ cán bộ các tổ chức đoàn thể cũng như mức độ độc lập của các tổ chức này đốivới cơ quan nhà nước, nâng cao vai trò của họ trong quá trình ra quyết định ở cáccấp”.14C. KẾT LUẬNTrên đây tôi vừa trình bày về “ thực trạng xây dựng nền dân chủ trong tiếntrình cách mạng xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay” . Qua đó, chúng ta đã biết đượcnền dân chủ xã hội chủ nghĩa hình thành với thắng lợi của CMSV , xóa bỏ chế đọ tưhữu, xác lập chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Xây dựng nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa vững mạnh và giữ vai trò chủ đạo của Đảng là những vấnđề rất quan trọng để thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa xứng đáng với lý tưởng màBác Hồ từng mong mỏi.Là một sinh viên đang theo học trên giảng đường Đại học và là một côngdân của một nước xã hội chủ nghĩa, tôi tự thấy bản thân cần phải cố gắng học tập hơnnữa, rèn luyện trao dồi tư cách đạo đức, học hỏi không ngừng để sau này trở thànhngười có ích cho xã hội và đóng góp bảo vệ cho đất nước, làm cho đất nước ngày mộtphát triển văn minh , giàu đẹp , công bằng.KẾT CẤU ĐỀ TÀI : Bài tiểu luận với chủ đề xây dựng nền dân chủ trongtiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay , gồm 3 phần , 2 chương và10 mục.15MỤC LỤCA. MỞ ĐẦU…………………………………………………………………………………………………… 11. Lý do chọn đề tài……………………………………………………………………………………….12. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu………………………………………………………12.1. Mục đích nghiên cứu……………………………………………………………………………12.2. Nhiệm vụ nghiên cứu…………………………………………………………………………..12.3. Phạm vi nghiên cứu………………………………………………………………………………13. Ý nghĩa của đề tài………………………………………………………………………………………24. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………………………………………….2B. NỘI DUNG………………………………………………………………………………………………..3CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ DÂN CHỦ THEO QUAN ĐIỂM……………..3CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN……………………………………………………………………………31.1. khái niệm dân chủ xã hội chủ nghĩa……………………………………………………….31.2. Đặt trưng dân chủ xã hội chủ nghĩa…………………………………………………………41.3. Tính tất yêu của việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa…………………….5CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH XÂY DỰNG NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ỞVIỆT NAM HIỆN NAY…………………………………………………………………………………72.1. Qúa trình xây dựng nền dân chủ ở Việt Nam……………………………………………72.1.1. Nội dung chủ yếu của dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam…………………72.1.2. dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu vừa là động lực trong sự nghiệpcách mạng xây dựng phát triển chủ nghĩa xã hội ở nước ta để tiến lên chủ nghĩaxã hội……………………………………………………………………………………………………. 72.2. Thực trạng xây dựng nền dân chủ ở Việt Nam hiện nay……………………………..82.2.1. Lịch sử phát triển………………………………………………………………………….102.2.2. những hạn chế………………………………………………………………………………122.3. Những giải pháp để xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam cóhiệu quả………………………………………………………………………………………………….. 13C. KẾT LUẬN……………………………………………………………………………………………… 15

Bài viết được chia sẻ bởi biquyet.com

Avatar of buimy3

By buimy3

Leave a Reply

Your email address will not be published.