– Năm 1070, Văn Miếu được xây dựng ở Thăng Long. Năm 1075, mở khoa thi đầu tiên để tuyển chọn quan lại.

Chủ đề

Giáo dục và văn hóa thời Lý phát triển như thế nào?

Phương pháp giải – Xem chi tiết

dựa vào sgk trang 47 – 49 để trả lời.

Giải thích chi tiết

* Thời Lý:

– Xây Văn Miếu để thờ Khổng Tử và dạy dỗ các con của vua.

– Tổ chức thi chọn người ra làm quan.

– Đạo Phật rất phát triển, hầu hết các vua thời Lý đều coi trọng đạo Phật.

=> Như vậy, nhà Lý bắt đầu chú ý đến học hành, khoa cử nhưng chế độ thi cử chưa có quy chế, quy định.

* Thời Đinh – Lê:

– Giáo dục không phát triển.

– Nho giáo đã vào nước ta nhưng tác động chưa đáng kể.

– Phật giáo phát triển vượt bậc, chùa chiền được xây dựng ở nhiều nơi.

Loigiaihay.com

Bài tập Trắc nghiệm Lịch sử lớp 7 – Xem ngay

Vì sao thăng long là ông tổ, người đặt nền móng cho nền giáo dục nước nhà?

Tại sao nói nhà Lý là triều đại đặt nền móng cho nền giáo dục Đại Việt?

Vì thời Lý, giáo dục được coi trọng. Cụ thể: Năm 1070, Văn Miếu Quốc Tử Giám được xây dựng ở Thăng Long để thờ Khổng Tử. 1075, mở khoa thi đầu tiên để tuyển chọn quan lại.

Năm 1076, Quốc Tử Giám được mở cho con em quý tộc học tập, sau đó mở cửa cho con em quan lại và người giỏi trong nước học tập và tổ chức một số kỳ thi.

Phản ứng:
Thái Minh Quân

Vì sao thăng long là ông tổ, người đặt nền móng cho nền giáo dục nước nhà?

Tại sao nói nhà Lý là triều đại đặt nền móng cho nền giáo dục Đại Việt? Làm ơn giúp tôi!

Thêm một lý do quan trọng: thời Lý có nền tảng tư tưởng vững chắc là Phật giáo, có nguồn gốc từ thời Bắc thuộc và phát triển vào thời Đinh, đến thời Lý – Trần đã tạo dựng được vị thế. Vị vua đầu tiên xuất gia nên Phật giáo hưng thịnh một cách tự nhiên. Hơn nữa, nhà sư được học hành và biết gắn việc học đạo với việc học thế gian nên nền giáo dục thời Lý phát triển mạnh mẽ. Nhà vua dùng sách Nho để dạy, vì chữ Hán vẫn thịnh hành, nhưng không phải là tất cả. Dân tộc ta có truyền thống hiếu học lâu đời và rất chịu học hỏi, học để tiến thân, học để đổi đời nên cách làm của nhà Lý rất hợp lý, hợp lòng dân.

Ở thời đại này, lần đầu tiên nhà Lý nắm chính quyền hơn 200 năm, không như các triều đại trước chỉ kéo dài vài chục năm. Trong năm 1054, Lý Thánh Tông đổi tên từ Đại Cồ Việt Pháo đài Đại việtmở ra kỷ nguyên Đại Việt rực rỡ trong Lịch sử việt nam.

Ở trong nước, mặc dù các Hoàng đế được tôn thờ đạo Phật nhưng ảnh hưởng của nho giáo cũng rất cao với việc mở trường đại học Đầu tiên là Đài tưởng niệm Văn học (1070) và Quốc Tử Giám (1076) và tổ chức các kỳ thi để chọn người tài không xuất thân Cao quý ra ngoài để giúp nước. Khoa thi đầu tiên được mở ở 1075 và Trạng nguyên Đầu tiên là Lê Văn Thịnh. Về tổ chức về mặt chính trị, đã có sự phân cấp rõ ràng hơn về quản lý và quản trị chủ yếu dựa vào pháp luật chứ không phải là sự chuyên quyền độc đoán của cá nhân. Sự kiện mà nhà Lý chọn trở thành Đại La làm thủ đô, đã đổi tên Thăng long quy tắc được đánh dấu dựa trên sức mạnh nền kinh tế và phổ biến hơn là sức mạnh quân sự để phòng thủ như các triều đại trước. Những người nổi tiếng như Lê Văn Thịnh, Bùi Quốc Khải, Doãn Tú Tú, Đoàn Văn Khảm, Lee Dao Thanh, Tô Hiến Thành, … có những đóng góp to lớn về văn học, văn hóa chính trị, tạo nên một nền văn hóa rực rỡ thời Lý.

Lý Nhân Tông là một vị vua nhân hậu và tài giỏi. Khi lên ngôi, tuy còn nhỏ tuổi nhưng ông đã được bà Lan, người phụ nữ giỏi việc nước, giúp đỡ và các quan đại thần như Thái sư Lý Đạo Thành, Phụ chính Thái úy Lý Thường Kiệt và được nhân dân hết lòng ủng hộ. Vì vậy, dưới thời Lý Nhân Tông, Đại Việt đã lập nên những chiến công lừng lẫy cả về đối nội và đối ngoại, ngày càng hùng mạnh.

Lý Nhân Tông đã có nhiều chính sách chấn hưng đất nước.

Trên lĩnh vực chính trị, ngoài việc thiết lập thể chế chính thức, chia văn, võ thành chín phẩm từ trung ương đến địa phương, Lý Nhân Tông còn là vị vua đầu tiên ban hành chế độ dân chủ với bài “Chiếu trực ngôn” (Tháng 4 4 năm 2016). Bính Thìn – 1076) nhằm huy động trí tuệ của mọi tầng lớp nhân dân góp phần vào sự nghiệp “trị nước, lập bình”. Và từ đó đến nay, các triều đại đều kế thừa chính sách trị nước, an dân.

Về kinh tế, anh rất tâm đắc với công việc nông nghiệp. Việc bảo vệ gia súc, tư liệu sản xuất của cư dân nông nghiệp Đại Việt, lần đầu tiên được Lý Nhân Tông đưa vào luật. Lý Nhân Tông hai lần ra chiếu chỉ cấm giết trâu.

Lý Nhân Tông là người đầu tiên khởi xướng đắp đê ngăn lũ, vận động nhân dân “đắp đê ở phường Cơ Xá” (nay là đê sông Hồng đoạn gần cầu Long Biên, Hà Nội), vào năm 1108.

Trong việc bảo vệ thiên nhiên và môi trường sinh thái cho cư dân nông nghiệp, tháng 1 năm 1126, ông đã ban hành sắc lệnh “Cấm dân mùa xuân không được chặt cây” và việc bảo vệ môi trường tự nhiên đã trở thành pháp lệnh. .

Nhưng điều vĩ đại, có ý nghĩa hơn cả của Lý Nhân Tông, triều đại của ông, đó là mở đầu cho sự nghiệp thi cử và nâng cao nền giáo dục nước nhà.

Tiếp nối sự nghiệp hằng mong đợi của cha ông, người đã đặt nền móng xây dựng nên Quốc học vào năm 1070 với việc lập Văn Miếu để ca ngợi Nho học, thờ Chu Công, Khổng Tử và các bậc hiền triết. Năm, sáu năm sau, Lý Nhân Tông là người đầu tiên khởi xướng và thực hiện hệ thống thi cử và giáo dục đại học của Đại Việt để từ đó ngày càng được các triều đại kế tiếp hoàn thiện.

Khoa thi đầu tiên của nền giáo dục tiên tiến Việt Nam được mở vào tháng 2 năm Ất Mão, niên hiệu Thái Ninh thứ 4 (1075), là kỳ thi học thuật nhằm chọn người có tài văn chương. Khoa này chọn ra mười người.

Một năm sau, năm Bính Thìn (1076), vua cho thành lập Quốc Tử Giám bên cạnh Văn Miếu (ban đầu dành cho các hoàng tử, sau mở rộng cho người giỏi trong thiên hạ học tập), và chọn người giỏi. những cái. , các học giả được phép giảng dạy. Đây là trường đại học đầu tiên của cả nước.

Tháng 2 năm Đinh Tỵ (1077) lại tổ chức “khảo thí lại bằng văn, điển tích và hình luật”, nhằm tuyển chọn những quan chức cao cấp cho bộ máy nhà nước. Đây là kỳ thi tuyển chọn quan lại đầu tiên với nội dung kiến ​​thức tương đối toàn diện: văn, toán, luật (chính trị).

Tháng 8 năm Bính Dần (1086) mở khoa thi để chọn người có tài văn chương trong nước, vào làm việc ở Hàn lâm viện. Trong kỳ thi này, Mạc Hiển Tích đã đỗ đầu và được phong làm Hàn lâm viện.

Là một bậc minh quân, Lý Nhân Tông còn là tấm gương lao động cần cù, phấn đấu vươn tới trình độ “học vấn cao, đức sâu” (Phan Huy Chú). Vì vậy, đánh giá chung về ông, các nhà sử học từ Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên, đến Phan Huy Chú, Lê Quý Đôn… đều cho rằng ông là “bậc quân vương”, “bậc quân tử”. ”của thời Lý.

NHỮNG NGƯỜI HẠNH PHÚC

Bài viết được chia sẻ bởi biquyet.com

Avatar of drducvt

By Drducvt

Leave a Reply

Your email address will not be published.