Nghia cua nghia vu dan quan la gi

Dân quân tự vệ là lực lượng vũ trang quần chúng (dân quân tự vệ) không thể tách rời sản xuất và công tác, là một bộ phận cấu thành của lực lượng vũ trang nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống trị của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự quản lý, điều hành của Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp, sự chỉ đạo thống nhất của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và sự chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ. Quốc phòng. Người chỉ huy, chỉ huy trực tiếp cơ quan quân sự địa phương có trách nhiệm bảo vệ chính quyền, tính mạng, tài sản của nhân dân và tài sản của Nhà nước ở cấp xã, cơ quan, tổ chức.

Dân quân tự vệ

Nghĩa vụ quân sự là gì?

Quốc huy của DQTV Việt Nam

Thành lập ngày 28 tháng 3 năm 1935; 86 năm trước(1935-03-28)Dân tộc

Nghĩa vụ quân sự là gì?

Việt Nam Bảo tồn Đảng Cộng sản Việt Nam Phân loại Dân quân tự vệ (Việt Nam) Cục

Nghĩa vụ quân sự là gì?

Quân đội nhân dân Việt Nam Ngày 28 tháng 3 năm 1935 Tham gia kháng chiến

  • Chiến tranh Đông Dương
  • Chiến tranh việt nam
  • Chiến tranh biên giới Tây Nam
  • Chiến tranh biên giới Việt – Trung 1979
  • Xung đột Việt – Trung 1979–1991

Chiến tranh

  • Trận Lạng Sơn (1979)
  • Trận Đồng Đăng (1979)
  • Trận Lào Cai (1979)
  • Trận Cao Bằng (1979)
  • Trận Vị Xuyên

Quốc huy của Dân quân tự vệ Việt Nam (đôi khi được gọi là “ngôi sao hình vuông”)

Căn cứ Luật Dân quân tự vệ số 43/2009 / QH12 ngày 23 tháng 11 năm 2009 của Quốc hội Việt Nam khóa XII, dân quân tự vệ là lực lượng vũ trang của quần chúng nhân dân không thể tách rời sản xuất và công tác. Lực lượng này được tổ chức ở các xã, phường, thị trấn gọi là Dân quân; được tổ chức trong một cơ quan hoặc tổ chức được gọi là Tự vệ.

Mục lục

  • Đầu tiên Lịch sử
  • 2 Nghĩa vụ
  • 3 Sứ mệnh
  • 4 Cơ quan
  • 5 Lãnh đạo
  • 6 xem thêm
  • 7 Tham khảo

HistoryEdit

Trong thời kỳ chuẩn bị lực lượng cho Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thành lập các Đội “Tự vệ đỏ” trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930 – 1931). Rồi đến Đội du kích Bắc Sơn, Cứu quốc quân, Du kích Ba Tơ, du kích Nam Kỳ, các đội du kích hoạt động ở các chiến khu trên cả nước… Đây là những lực lượng xung kích trong Cách mạng Tháng Tám. vào năm 1945.

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, lực lượng dân quân tự vệ và du kích đã phát triển từ khoảng một vạn người vào tháng 8 năm 1945 lên khoảng một triệu người vào đầu năm 1946, với quy mô rộng khắp cả nước.[1] Đầu năm 1947, lực lượng Dân quân tự vệ đã phát triển lên gần 3 triệu người, riêng thủ đô Hà Nội có 6.000 đội viên. Ở chiến trường miền Nam, dân quân du kích phát triển trên 270.000 (nữ có 57.000); trong đó, chiến đấu du kích là 14.000. Ở chiến trường miền Trung, đến cuối năm 1949, có 285.000 du kích và 22.000 lính da trắng. Ở miền Bắc, lực lượng dân quân du kích phát triển lên đến hơn 279.000 người. Trong kháng chiến chống Pháp, lực lượng dân quân tự vệ và bộ đội địa phương đã tiêu diệt 23,1 vạn / tổng số 5 vạn địch (chiếm 46,4%), làm tan rã trên 200 vạn địch (chiếm 46,4%). 35%) và kiềm chế, phân tán hơn 90% tổng quân địch trên toàn chiến trường[2]

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, lực lượng dân quân tự vệ miền Bắc phát triển nhanh chóng (chiếm 12% dân số miền Bắc giai đoạn 1965-1973).[3] Dân quân miền Bắc đã bắn rơi 424 trong tổng số 4.181 máy bay Mỹ bị bắn rơi trên miền Bắc (chiếm 10%), bắt sống nhiều phi công Mỹ, tiêu diệt hàng chục tên biệt kích, bắn chìm và đốt cháy chúng. nhiều tàu địch. Đã có 183 triệu lượt người được huy động tham gia phục vụ chiến đấu, di tản tránh, khắc phục hậu quả pháo kích, chi viện cho chiến trường miền Nam.

Ở miền Nam, đến năm 1960, dân quân du kích miền Nam lên đến khoảng 10.000 người. Đến năm 1966, dân quân du kích toàn miền Nam có 301.354 người, trong đó có 152.037 người trực tiếp chiến đấu; năm 1967 tăng lên 302.638 người, có 154.159 người trực tiếp chiến đấu. Đến đầu năm 1975, dân quân du kích miền Nam đạt 296.984 người, trong đó có 83.953 người trực tiếp tham gia chiến đấu.[4] (số lượng giảm so với năm 1967 do nhiều binh sĩ chuyển biên chế về các đơn vị bộ đội chủ lực chuẩn bị cho các chiến dịch lớn)

Nghĩa vụEdit

Công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi đến hết 45 tuổi, nữ từ đủ 18 tuổi đến hết 40 tuổi, trừ một số trường hợp đặc biệt bắt buộc phải tham gia huấn luyện dân quân tự vệ. Thời hạn phục vụ dân quân tự vệ nói chung là 4 năm. Có thể xin thêm thời gian thực hiện dịch vụ, nam không quá 50 tuổi, nữ không quá 45 tuổi.

MissionEdit

Dân quân tự vệ có 7 nhiệm vụ:[5]

  • Sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu và phục vụ chiến đấu bảo vệ địa bàn, cơ sở; phối hợp với bộ đội biên phòng, hải quân, tuần duyên và các lực lượng khác bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh biên giới và chủ quyền, quyền chủ quyền trên các vùng biển Việt Nam.
  • Phối hợp với các đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và các lực lượng khác trên địa bàn tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân, khu vực phòng thủ; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước.
  • Thực hiện nhiệm vụ huấn luyện quân sự, giáo dục chính trị, pháp luật, hội thi, hội thao, diễn tập.
  • Tham gia thực hiện các biện pháp tác chiến thông tin, chiến tranh mạng theo quy định của pháp luật và quyết định của cấp có thẩm quyền.
  • Phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố, thiên tai, dịch bệnh, cháy, nổ; tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn; bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường và các nhiệm vụ phòng thủ dân sự khác theo quy định của pháp luật.
  • Tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về quốc phòng, an ninh; tham gia xây dựng địa phương vững mạnh toàn diện, thực hiện các chính sách xã hội.
  • Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.

OrganizationEdit

  • Theo mức độ sử dụng, dân quân tự vệ được chia thành:
    • Dân quân tự vệ nòng cốt: Dân quân tự vệ nòng cốt gồm những người đang thực hiện nghĩa vụ dân quân tự vệ.
    • Dân quân tự vệ rộng rãi: Dân quân tự vệ rộng rãi gồm những dân quân tự vệ nòng cốt đã hoàn thành nghĩa vụ dân quân tự vệ và là công dân trong độ tuổi quy định.
  • Theo mức độ cơ động, dân quân tự vệ nòng cốt được chia làm ba loại:
    • Dân quân cơ động: là lực lượng dân quân tự vệ nòng cốt được tổ chức thành các đơn vị cơ động sẵn sàng làm nhiệm vụ trên địa bàn khi có lệnh của cấp có thẩm quyền.
    • Dân quân địa phương: Ở địa phương gọi là dân quân, cơ quan gọi là tự vệ
    • Lực lượng dân quân tự vệ phòng không, pháo binh, công binh, trinh sát, thông tin, hóa học, y tế.
  • Theo biên chế, lực lượng dân quân tự vệ nòng cốt được chia thành hai loại:
    • Bộ binh dân quân tự vệ
    • Lực lượng dân quân tự vệ
  • Theo tiêu điểm có:
    • Dân quân thường trực: là lực lượng dân quân tự vệ nòng cốt làm nhiệm vụ thường trực sẵn sàng chiến đấu trên các địa bàn trọng điểm về quốc phòng, an ninh.
    • Dân quân tự vệ trên biển: là dân quân tự vệ nòng cốt được tổ chức ở cấp xã ven biển, xã đảo và cơ quan, tổ chức có phương tiện hoạt động trên biển làm nhiệm vụ trên vùng biển Việt Nam. .

Lực lượng dân quân tự vệ được biên chế thành các đơn vị gồm:

  • Tổ
  • Tiểu đoàn, khẩu đội (cho pháo binh)
  • Trung đội
  • Đại đội, hải đội (đối với lực lượng dân quân tự vệ trên biển)
  • Tiểu đoàn, hải đội (đối với dân quân tự vệ trên biển)

Tổ chức chỉ huy quân sự cơ sở bao gồm:

  • Thôn đội: tổ chức các tổ, tiểu đội, trung đội dân quân tại chỗ;
  • Xã (Ban Chỉ huy quân sự cấp xã): Tổ chức trung đội dân quân cơ động.
  • Ban chỉ huy quân sự đơn vị cơ sở: tổ chức tiểu đội, trung đội, đại đội, tiểu đoàn tự vệ. Cơ quan, tổ chức có phương tiện hoạt động trên biển tổ chức hải đội, trung đội, hải đội, hải đội tự vệ biển;
  • Ban chỉ huy quân sự các cơ quan Trung ương

LeadershipEdit

Dân quân tự vệ đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống nhất của Chủ tịch nước, sự quản lý, điều hành của Chính phủ, sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp. ; chịu sự chỉ huy thống nhất của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và sự chỉ huy trực tiếp của Chỉ huy trưởng cơ quan quân sự địa phương. Bí thư cấp ủy chỉ huy quân sự hoặc chính trị viên dân quân tự vệ là bí thư hoặc phó bí thư thường trực cấp ủy chính quyền, đơn vị.

Dân quân tự vệ chịu sự chỉ huy trực tiếp của Cục Dân quân tự vệ, thuộc Bộ Tổng Tham mưu.

Xem thêm[sửa

ReferenceEdit

  • ^ Cục Dân quân tự vệ, Lịch sử 65 năm ngành Dân quân tự vệ Việt Nam (1947-2012), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2012, tr. 19.
  • ^ Lịch sử truyền thống của lực lượng dân quân tự vệ Việt Nam (28/3/1935 – 28/3/2021)
  • ^ Bộ Tổng Tham mưu, Dân quân tự vệ Việt Nam – 70 năm và một chặng đường (Kỷ yếu Hội thảo khoa học), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr. thứ mười hai
  • ^ Bộ Tổng tham mưu, “Thống kê tư liệu chiến tranh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975)”. Phần thứ nhất: Lực lượng vũ trang nước ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, số 7436 / KTCM. Tài liệu Trung tâm Lưu trữ Quốc phòng (K4), tr. số 8
  • ^ “7 nhiệm vụ của dân quân tự vệ trong Luật dân quân tự vệ năm 2020”. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2020.
  • Bài viết được chia sẻ bởi biquyet.com

    Leave a Reply

    Your email address will not be published.