Tốt nhất

* Đời sống tinh thần:

– Niềm tin:

+ Thờ thiên nhiên (thờ thần mặt trời, thần sông, thần núi, phong tục sinh sản).

+ Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tôn kính các anh hùng, người có công với làng xã là nét đặc trưng của người Việt cổ.

– Dần dần hình thành một số phong tục: cưới xin, ma chay. Các lễ hội diễn ra khá phổ biến, đặc biệt là các lễ hội theo mùa.

– Có tục nhuộm răng đen, ăn trầu, xăm mình; Cả nam và nữ đều thích đeo đồ trang sức.

Trả lời câu hỏi trang 64 SGK Lịch Sử lớp 6 Kết nối tri thức và cuộc sống – Bài 14. Nhà nước Văn Lang – Âu Lạc

Câu hỏi: Trình bày những nét chính về đời sống tinh thần của cư dân Văn Lang, Âu Lạc

Câu trả lời:

Những nét chính về đời sống tinh thần của cư dân Văn Lang, Âu Lạc:

– Về tín ngưỡng, cư dân Văn Lang – Âu Lạc có tục thờ tiên, thờ các vị thần trong tự nhiên như thần Sông, thần Núi, thần Mặt trời, ..

Quảng cáo

– Người Việt cổ có tục xăm mình, nhuộm răng đen, ăn trầu, làm bánh chưng, bánh giầy.

– Việc cưới, việc tang, lễ hội diễn ra khá phổ biến, nhất là các lễ hội theo mùa.

– Các lễ hội gần với nghề trồng lúa nước cũng được tổ chức thường xuyên.

Những thành tựu về đời sống vật chất và tinh thần của cư dân Văn Lang – Âu Lạc đã tạo nên nền văn minh đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, góp phần tạo nên nền tảng cốt lõi của bản sắc văn hóa dân tộc.

    Thể loại:

Quảng cáo

Giải câu hỏi thảo luận số 3 trang 76 SGK Lịch sử 10

Chủ đề

Nêu những nét cơ bản trong đời sống vật chất và tinh thần của cư dân Văn Lang – Âu Lạc.

Phương pháp giải – Xem chi tiết

dựa vào SGK Lịch sử 10 trang 76 để trả lời.

Giải thích chi tiết

Cư dân Văn Lang – Âu Lạc có đời sống vật chất và tinh thần phong phú.

* Tiêu chuẩn cuộc sống:

– Ăn: Nguồn lương thực chính là gạo (gạo tẻ và gạo tẻ), ngoài ra còn có khoai, sắn. Thức ăn gồm cá, thịt, rau, củ.

– Sinh hoạt: Tục ở nhà sàn.

– Các nghề sản xuất chính: trồng lúa nước, chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp.

– Đi lại chủ yếu bằng thuyền trên sông

– Mặc: Nữ mặc áo, váy. Đàn ông đóng khố.

* Đời sống tinh thần:

– Niềm tin:

+ Thờ thiên nhiên (thờ thần mặt trời, thần sông, thần núi, phong tục sinh sản).

+ Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tôn kính các anh hùng, người có công với làng xã là nét đặc trưng của người Việt cổ.

– Dần dần hình thành một số phong tục: cưới xin, ma chay. Các lễ hội diễn ra khá phổ biến, đặc biệt là các lễ hội theo mùa.

– Có tục nhuộm răng đen, ăn trầu, xăm mình; Cả nam và nữ đều thích đeo đồ trang sức.

Loigiaihay.com

Trắc nghiệm Lịch sử lớp 10 – Xem ngay

Câu trả lời đúng nhất cho các câu hỏi trắc nghiệm “Về tín ngưỡng, cư dân Văn Lang – Âu Lạc có tục” cùng với những kiến ​​thức tham khảo về Tín ngưỡng của cư dân Văn Lang – Âu Lạc là chuyên đề đắt giá dành cho quý thầy cô giáo và các em học sinh tham khảo.

Đố: Về mặt tín ngưỡng, cư dân Văn Lang – Âu Lạc có phong tục

A. thờ cúng tổ tiên.

B. thờ thần – vua.

C. ướp xác.

D. thờ Chúa Giê-su.

Câu trả lời:

Câu trả lời chính xác: A. thờ cúng tổ tiên.

+ Thờ thiên nhiên (thờ thần mặt trời, thần sông, thần núi, phong tục sinh sản).

+ Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tôn kính các anh hùng, người có công với làng xã là nét đặc trưng của người Việt cổ.

– Dần dần hình thành một số phong tục: cưới xin, ma chay. Các lễ hội diễn ra khá phổ biến, đặc biệt là các lễ hội theo mùa.

– Có tục nhuộm răng đen, ăn trầu, xăm mình; Cả nam và nữ đều thích đeo đồ trang sức.

Hãy cùng Giải pháp đỉnh cao trang bị thêm những kiến ​​thức bổ ích về tín ngưỡng của cư dân Văn Lang – Âu qua bài viết dưới đây nhé!

Tham khảo kiến ​​thức về tín ngưỡng của cư dân Văn Lang – Âu Lạc

1. Tín ngưỡng thờ thiên nhiên (thờ thần Mặt trời, thần sông, thần núi và tục lệ sinh sản)

Việc sùng bái thiên nhiên ở Việt Nam hình thành và phát triển như một lẽ tất yếu. Bởi lẽ, ngay từ khi sinh ra, con người đã gắn bó mật thiết với thiên nhiên. Con người vừa phải dựa vào thiên nhiên để kiếm sống vừa phải chiến đấu chống lại sự hung dữ của nó.

Là một nước nông nghiệp nên việc tôn thờ thiên nhiên là điều dễ hiểu. Điều đặc biệt của tôn giáo Việt Nam là tôn giáo đa thần, âm phủ (tôn trọng tình cảm, trọng nam khinh nữ). Các vị thần ở Việt Nam chủ yếu là nữ giới, do ảnh hưởng của tín ngưỡng trọng sinh như đã nói ở trên nên các vị thần đó không phải là những cô gái trẻ đẹp như ở một số tôn giáo, tín ngưỡng khác mà là các Bà, các Mẫu.

Nền nông nghiệp lúa nước càng khẳng định sự gắn bó bền chặt giữa con người và thiên nhiên. Sự phụ thuộc đồng thời vào nhiều yếu tố tự nhiên dẫn đến tư duy tổng hợp. Vì vậy, con người bắt đầu tôn thờ nhiều yếu tố trong tự nhiên: đất, nước, trời. Tín ngưỡng đa thần là một đặc điểm nổi bật trong tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam.

2. Thờ cúng tổ tiên (hay còn gọi là đạo ông bà)

Đây là phong tục thờ cúng tổ tiên đã khuất của nhiều dân tộc châu Á, đặc biệt phát triển trong văn hóa Việt Nam, văn hóa Trung Hoa, văn hóa Hàn Quốc và văn hóa Đông Nam Á. thờ cúng tổ tiên. Nhiều người Việt Nam ngoài tôn giáo của mình thường thờ cúng tổ tiên. Đại đa số các gia đình đều có bàn thờ tổ tiên trong nhà, ít nhất cũng có ảnh treo trang trọng, nhưng đó không phải là một tôn giáo mà là vì lòng hiếu kính ông bà cha mẹ của người Việt. , chú tuyệt vời. Đây là một tín ngưỡng rất quan trọng và gần như không thể thiếu trong phong tục của người Việt Nam.

Theo quan niệm của người Việt, tổ tiên trước hết là những người cùng huyết thống như cha, mẹ, ông, bà, cố, kỵ … là người đã sinh ra mình. Tổ tiên cũng là những người có công tạo dựng nên cuộc sống hiện tại như “Thành hoàng làng”, “Tổ nghề nghệ thuật”. Không chỉ vậy, tổ tiên còn là những người có công bảo vệ làng xóm, quê hương, đất nước khỏi giặc ngoại xâm như Trần Hưng Đạo đã trở thành “Cha đẻ” được tổ chức cúng giỗ vào tháng 8 âm lịch hàng năm. “Tháng Tám giỗ Cha” ở nhiều nơi trong cộng đồng người Việt. Ngay cả “Thành hoàng” của nhiều làng cũng không phải là người có công tạo ra làng mà có khi là người có công với nước được người xưa tôn là “thành thần”. Tổ tiên trong tín ngưỡng của người Việt cũng là “Mẹ Âu Cơ”, cũng là “Vua Hùng”, người đã sinh ra các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam.

Ngoài lý do tin vào người chết, ý thức tôn kính cội nguồn, hiếu thảo của người Việt cũng là cơ sở quan trọng để hình thành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Con cháu bày tỏ lòng biết ơn đối với cha mẹ của họ, cả những người đã chết và còn sống, và cũng thể hiện trách nhiệm tiếp nối và lâu dài của con cháu đối với các nhu cầu của tổ tiên của họ. Trách nhiệm không chỉ được thể hiện trong những hành vi sống (giữ gìn danh dự và tiếp nối truyền thống của gia đình, dòng tộc, đất nước) mà còn ở những hành vi hy sinh cụ thể. Từ đó, tục thờ cúng tổ tiên dần được hình thành.

Người phương Đông có thói quen duy tâm, nhưng biểu hiện này ở người Việt càng sâu sắc hơn. Người ta vừa mắc phải quan niệm “sống vì mồ, ai sống vì bát cơm” để mong nhận được “phúc của tổ tiên” mà mang trách nhiệm phù hộ cho con cháu. Vì vậy, khi làm tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, người ta một mặt hướng về quá khứ, hướng về hiện tại (giáo dục truyền thống gia đình, đạo đức cho con cháu), mặt khác là chuẩn bị cho tương lai.

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên có nội dung đơn giản, thiết thực, không cực đoan như nhiều tôn giáo khác. Bằng việc thờ cúng tổ tiên, thế hệ trước làm gương cho thế hệ sau không chỉ vì trách nhiệm đối với cha mẹ mà còn phải giáo dục, dạy dỗ con cháu để truyền lại dòng họ. Khi tế lễ, lời thề của họ cũng rất đơn giản và thiết thực: cầu mong sự che chở, phù hộ cho cuộc sống thường ngày được bình yên, suôn sẻ. Không biết sự khẩn cầu đó hiệu quả đến đâu, nhưng trước hết, mọi người cảm thấy bình yên về mặt tinh thần, là điểm tựa tinh thần quan trọng cho cuộc sống. Do đó, khả năng tín ngưỡng này lan tỏa theo không gian và thời gian cũng là điều dễ hiểu.

Bài viết được chia sẻ bởi biquyet.com

Leave a Reply

Your email address will not be published.