Các công cụ chia ngày kỷ niệm thành hai loại: quan trọng và thông thường

Giỗ là ngày giỗ của người thân vừa qua đời, thường là ông bà, cha mẹ. Ngày giỗ thường là ngày giỗ của những người thuộc thế hệ sau: ông cố, cô bác, cô bác, anh chị em… Các cụ vẫn truyền nhau câu: “Ngũ đại thiếu gia chi chủ” (năm đời không có chủ. ), tức là từ đời thứ 5 trở lên (đời kỵ) con cháu chắt không phải cúng giỗ nữa, nhưng ngày Tết và các ngày giỗ khác thì vẫn được phép cúng giỗ. tuyên khấn với chủ nhân (người đứng lễ), được mời về “chung chạ” với vong linh những người đã khuất của gia đình.

Dân tộc ta mang trong mình truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” nên hàng năm những người thành lập dòng họ – được tôn là “Tổ nghề” hay “Tổ tiên” – vẫn được làm lễ tế nhỏ tại “Đại hiếu”. nhà thờ. ”(Nhà thờ họ).

Trong 20 năm qua, nhiều nhà thờ họ đã được xây dựng lại, tôn tạo, tu bổ, tôn tạo và phục dựng tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Gia đình tôi là dòng họ nhỏ, lại sống rải rác, ngày giỗ tổ tiên năm nào cũng có đến 6-7 chục cháu chắt. Họ ngoại tôi là một dòng họ lớn, mỗi lần giỗ chạp quy tụ 5-7 trăm người khắp trong và ngoài nước. Đó là cơ hội để con cháu… Tổ tiên gặp gỡ, trước hết là tỏ lòng thành kính với Tổ, sau là nhận hàng, nhận hàng.

A hỏi b: hàng năm, vào ngày giỗ của bà.

Đối với nhiều gia đình, ngày giỗ tổ còn là ngày để động viên con cháu chắt, chút … làm việc thiện, biểu dương những người chắt, một số ít đỗ đại học, đỗ đại học. , thi vào cao đẳng, đại học thì có phần thưởng cho một chút, một chút thôi. học giỏi. Ở Phú Thọ còn có phong trào “Dòng tộc tự quản” với những “tộc ước” rất cụ thể.

Ngày giỗ, mỗi gia đình tổ chức khác nhau.

Quê tôi trước đây ở ngoại thành Hà Nội, nay thuộc quận Hoàng Mai, có nếp sống rất đẹp, ma chay thì tùy gia chủ, gia đình tổ chức như thế nào. Các bậc bô lão dạy: “Đó là đạo hiếu, người ta đến không phải vì bữa cơm thịnh soạn, vì miếng ăn mà để tưởng nhớ người đã khuất, vì xóm giềng tối lửa tắt đèn có nhau”. Vì vậy, trong các đám tang, đám giỗ ở quê tôi, không ai nói một lời chê bai, không cãi vã, to tiếng, say xỉn, cờ bạc…

Những người lớn tuổi rất coi trọng bộ bài chứ không phải bộ bài cũ. Ngày giỗ chạp, chính yếu chỉ cần “bát cơm, quả trứng” là đủ. Vì vậy, hầu hết tất cả các gia đình ở Hà Nội, dù ngày giỗ lớn hay nhỏ, mâm cỗ đầy đủ đến đâu, gần cuối lễ đều dâng lên bàn thờ một bát hoặc bát cơm và một quả trứng. (bỏ hạt) vịt hoặc gà luộc chín, bỏ vỏ và bóp nhẹ phần lòng trắng để lộ phần bên trong với một chút muối ở bên cạnh.

Trước đây, ở quê tôi có hai cách tổ chức giỗ gần như thành lệ làng: Mở rộng cho những ngày giỗ mới, nhất là giỗ đầu (một năm sau ngày giỗ và giỗ cuối (hai năm sau giỗ, có nhà). làm vào ngày thứ 100 sau hai năm gọi là ngày giỗ hay “về” – kể từ ngày đó con cháu không phải về, sau giỗ cũng không có người lui tới.

Về lễ vật, quê tôi có hai loại, tùy theo hoàn cảnh gia đình mà chọn:

– Làm bữa cơm bình thường (quê tôi gọi là cỗ bàn than): chỉ có mấy món chế biến từ thịt lợn: luộc, quay, lòng, có thể thêm đĩa giò.

– Làm mâm cỗ lớn (gọi là món Hoa) có nhiều món cầu kỳ hơn, thường mỗi mâm có bốn bát, tám đĩa: giò, chả, ninh, mọc, nấm, chả …

A hỏi b: hàng năm, vào ngày giỗ của bà.

Một số gia đình khá giả thì làm bò, lợn, gà (hoặc dê) gọi là “tam sinh”. Đám giỗ làm ở phạm vi rộng thường 30 mâm, có đám hàng trăm mâm, phạm vi hẹp từ 5-10 mâm (mỗi mâm 6 người).

Trước ngày giỗ khoảng 10 ngày, người lớn tuổi (con trai đầu) mời tất cả con trai, con gái của người đã khuất đến để thống nhất cách tổ chức lễ giỗ và phân công mỗi người một việc; người mua thức ăn, người mượn bát đũa, xoong nồi, người dựng rạp. Các em tự nguyện đóng góp theo khả năng và ý chí của mình, không bán, không chia đều. Sau khi thống nhất, vợ chồng gia tiên phải đích thân mời từng nhà: “Lời chào cao hơn mâm cỗ!”, Có hàng chục món vì sơ suất khi mời.

Cũng như những nơi khác, nhà nào ở quê tôi cũng có bàn thờ gia tiên được đặt ở giữa – nơi trang trọng nhất, từ hai cột chính đến bức tường phía sau. Ở những ngôi nhà nghèo, bàn thờ là một tấm ván gỗ sơn đỏ nối hai cột chính với hai cột sau. Trên bức tường giữa là một hình vuông bằng giấy đỏ với một chữ Hán lớn “Phúc” hoặc “Thần”. Trên đĩa gỗ đặt ba bát hương, bát giữa cao hơn để thờ thần linh, bát bên phải thờ gia tiên, bát bên trái thờ các “cô bác” – những người chết chưa vợ, chưa chồng, có con. những gia đình của họ. được coi là thiêng liêng. Hai góc trước bàn thờ có hai con tiện gỗ.

Trong nhà đẹp hơn thì bàn thờ là cuốn thư có trang trí hoa văn, sơn phết hoặc then (đen), đèn cầy bằng gỗ sơn mài. Những người giàu có thì chạm khắc “tứ linh” (bốn con vật linh thiêng: rồng (rồng), ly (kỳ lân), rùa (rùa), phượng (phượng); mặt trước cuốn thư là một tấm ván gỗ quý có khắc chữ “mai long”. (cây hoa mận hình rồng) hay chữ ngũ long (năm con rồng lượn một vòng), đều bằng sơn son thếp vàng.

A hỏi b: hàng năm, vào ngày giỗ của bà.

Có bộ “tam sự” bằng đồng, một số nhà còn đặt thêm một bộ lư rượu bằng gỗ hoặc bằng đồng màu đỏ son (gồm ba khối hình ống, có đáy cao, có nắp đậy, trên mỗi đáy có một chén đựng hạt mít, khi cúng). cơm, chủ nhân mở nắp và đổ vào chén). Có nhà bày thêm bát hương, mâm cỗ bày hoa quả …

Trong những năm từ giữa thế kỷ XX, khi kỹ thuật nhiếp ảnh phổ biến, trên các bản thảo đều có ảnh của những người đã khuất; Trên bức tường phía sau còn có một bức hoành phi, có 3 – 4 chữ Hán lớn, ghi những điều ước, những lời cầu nguyện của gia đình và đôi câu đối hoặc hình lòng máng nói về công đức của tổ tiên và lòng hiếu thảo của con cháu. ; Tất cả đều được sơn son thếp vàng.

Ở các nhà thờ “đại tôn”, phía sau tòa án thư là bức cửa võng, chạm trổ tinh xảo, sơn son thếp vàng, phía sau treo hai tấm rèm bằng lụa hoặc lụa đỏ, ngăn cuốn thư vào “hậu cung”, khi cúng bái, gia chủ. vén rèm sang hai bên, để lộ nơ sau. Hậu cung là một nền lớn, cao bằng ngôi đền bằng gỗ hoặc gạch, sát vách hậu, trong cùng có bức bàn vuông, trên ngai có bức hoành phi sơn, trên ngai có bài vị bằng gỗ. vài dòng từ. Hán: họ, chi, quê quán …

Hai bên ngai đặt hai chân đèn; Khi cúng dường, gia chủ thắp nến để chiếu sáng cung điện. Trước ngai có một cái mâm cao bằng gỗ vuông để đặt mâm khi cúng cơm. Thường ngày giỗ, nhà trai tất bật từ chiều hôm trước, chuẩn bị xong mâm cơm cúng.

Thường vào ngày giỗ, nhà trai tất bật từ chiều hôm trước, để hoàn tất các khâu chuẩn bị và cúng “gia tiên”. Ngày giỗ, mọi việc diễn ra khẩn trương từ 2-3 giờ sáng dưới ánh đuốc, đoàn người giết lợn, mổ bò, chuẩn bị thức ăn, người vo gạo, thổi xôi … người nọ xin phép người kia, lệnh trưởng. vang lên… tạo nên không khí nhộn nhịp của nhà đông người.

Khoảng 8 giờ sáng, các mâm cỗ được dọn xong, một hoặc ba mâm cỗ đặt lên bàn thờ (hoặc hậu cung). Người con trai cả đầu đội khăn xếp bước lên bậc thang trước bàn thờ thắp hương thắp nến rồi đứng giữa, hai tay chắp trước ngực, ba lần quỳ gối, rồi chú tâm đứng lên. mười ngón tay đan vào nhau. nhau và đưa chúng lên trán, thì thầm những lời cầu nguyện.

Bài cầu nguyện có ba phần. Mở đầu là ngày tháng năm (âm lịch), tại nhà thờ họ ở làng, xã, huyện, tỉnh … tên thầy là gì, ngày giỗ ai thì thành tâm. Quyên góp. Phần tiếp theo là lời mời của gia chủ từ thần linh, thổ địa, Táo quân … đến họ, tước vị, nơi chôn nhau cắt rốn của các thành viên trong gia đình theo thứ tự từ trên xuống (chỉ đàn ông và phù dâu, phụ nữ không). t cầu nguyện). , trừ trường hợp chết chưa lập gia đình).

Cuối lời cầu nguyện là những lời khẩn cầu. Sau khi khấn xong, con trai trưởng làm lễ một lạy và ba lạy nữa rồi rót rượu cúng. Một số gia đình đông con khi làm lễ giỗ tổ, tổ chức dâng hương lên tổ tiên và thay bài khấn bằng bài văn tế, người đứng đầu lễ đọc bài cúng rồi rước ra ngoài sân đốt như nến trong. đình chùa.

Khi con trai trưởng khấn xong, những người đi dự đám giỗ vào làm lễ trước, mỗi người mang theo một ít hoa, quả, vàng hương, trầu cau, rượu đặt lên bàn thờ rồi mới làm lễ. Nam thì lễ phép như người lớn tuổi, nữ ngồi trong góc, chắp tay trước ngực, khi cúi đầu, úp mặt vào chiếu, hai tay dang rộng hai bên đầu. Những người phụ nữ có đại tang (cha mẹ hoặc chồng mới mất) phải lật một phần chiếu xuống, cúi mặt xuống, đưa tay trùm khăn trắng quấn trên tóc để khấn vái.

Thường thì đầu tuần thắp hương (nhang) thứ hai, cuối tuần con trai trưởng tạ ơn, hóa vàng rồi hạ bàn thờ cho con cháu cầu may.

Nhìn sơ qua phong tục cúng giỗ của người Hà Nội giữa thế kỷ XX cho thấy ông cha ta rất cẩn thận khi cúng giỗ. Ngày giỗ là dịp sum họp gia đình, để tưởng nhớ và noi gương những người đã khuất trong gia đình, đó là đạo hiếu, là nét sinh hoạt tinh thần của người Việt Nam nói chung và người Hà Nội nói riêng. Nó mang nặng tính truyền thống và là phong tục tập quán đậm đà bản sắc dân tộc cần được duy trì.

Hơn chục năm nay, khi cuộc sống nói chung sung túc, việc thờ cúng ngày giỗ đã được nhiều gia đình, dòng tộc khôi phục. Nhưng do không hiểu hết ý nghĩa thực sự hoặc không có ai hướng dẫn, hoặc cố tình làm lớn, làm đại trà để khoe khoang, kiếm lời.

A hỏi b: hàng năm, vào ngày giỗ của bà.

Có người đi đám giỗ để trả ơn người sống, nhận hối lộ nên đặt lên bàn thờ không phải lễ vật mà là phong bì … làm cho lễ giỗ mất đi ý nghĩa truyền thống, gây ra sự ganh đua giữa các dòng họ. , tạo điều kiện cho một số tệ nạn, một số tệ nạn xã hội – thường là cờ bạc, đốt vàng mã – phát triển.

(Theo Kiến thức Ngày nay)

Bài viết được chia sẻ bởi biquyet.com

Leave a Reply

Your email address will not be published.