Về cuốn sách này

Trang 2

Về cuốn sách này

Điều nào sau đây là đúng với thừa kế liên kết hoàn toàn?

Một. Các cặp gen quy định các cặp tính trạng nằm trên các cặp nhiễm sắc thể thường khác nhau.

GỠ BỎ. Sự xuất hiện của các biến dị tổ hợp rất đa dạng và phong phú.

. Luôn tạo quỹ gen liên kết phần tư mới.

DỄ. Hạn chế phát sinh các biến dị tổ hợp.

Đề nóng cùng chủ đề LIVESTREAM 2K4 ôn thi THPTQG 2022

TƯƠNG TÁC CỦA ĐỒ THỊ HÀM SỐ – 2k5 – Livestream TOÁN HỌC QUANG HUY

Toán học

BÀI TẬP VỀ GIÁ TRỊ VÀ KHẢ NĂNG CHÍNH XÁC CƠ BẢN – – 2K5 Livestream LÝ THÁI TUYỂN

Vật lý

UNIT 1 – ĐÁNH GIÁ TOÀN DIỆN DƯỢC LIỆU (Buổi 2) – Livestream TIẾNG ANH 2k5 Cô QUỲNH TRANG

Tiếng anh (mới)

https://www.youtube.com/watch?v=9N3-WMajN88

BÀI TOÁN TÌM m TRONG TỐI ĐA NĂNG – 2k5 – Livestream TOÁN HỌC QUANG HUY

Toán học

HỌC SỚM 12 – TÍNH CHẤT – SẢN XUẤT ESTE – 2K5 – Livestream Hoa Huyền

Hoá học

KIỂM TRA ĐÔNG ĐÔNG – CÔNG TY – Danh pháp ESTE – 2K5 – Livestream Hoa Huyền

Hoá học

Xem thêm …

Cấp độ ngoại thất là tần số mà gen được biểu hiện. Nó được định nghĩa là tỷ lệ phần trăm các cá thể biểu hiện kiểu hình tương ứng trong các cá thể mang gen (xem Hình: Mức độ tồn tại và biểu hiện). Mức độ bên ngoài và mức độ biểu hiện

Đặc điểm nào sau đây không phải là đặc điểm của di truyền liên kết?

). Một gen có mức độ biểu hiện thấp có thể không được biểu hiện ngay cả khi tính trạng trội hay lặn và gen liên kết với tính trạng đó có trên cả hai nhiễm sắc thể. Mức độ biểu hiện của cùng một gen có thể khác nhau giữa các cá thể và có thể phụ thuộc vào tuổi của cá thể đó. Ngay cả khi một alen bất thường không được biểu hiện (không có mức độ ngoại lai) ở bố hoặc mẹ, thì có thể tính bất thường đó sẽ được biểu hiện. Trong những trường hợp như vậy, tính trạng sẽ bị phân tách bởi một thế hệ sẽ không xuất hiện. Tuy nhiên, một số trường hợp không đại diện là do đánh giá sai chủ quan từ phía người nghiên cứu hoặc những đột biến rất nhỏ khó nhận biết. Những bệnh nhân có biểu hiện rất nhỏ sẽ được coi là bất thường không điển hình.

Mức độ biểu đạt là miền tính trạng có thể có của gen được biểu hiện ở cá thể. Biểu thức có thể được tính theo tỷ lệ phần trăm; Ví dụ, khi một gen có 50% biểu hiện, chỉ một nửa số đặc điểm có mặt hoặc mức độ nghiêm trọng chỉ bằng một nửa những gì có thể xảy ra với biểu hiện đầy đủ. Sự biểu hiện có thể bị ảnh hưởng bởi môi trường và các gen khác, vì vậy những người có cùng gen vẫn có thể có kiểu hình khác nhau. Ngay cả mức độ biểu hiện có thể khác nhau ngay cả trong các thành viên của cùng một gia đình.

Kiểu gen được biểu hiện thành kiểu hình phụ thuộc vào mức độ biểu hiện và biểu hiện của gen và cá thể.

Mức độ bên ngoài đề cập đến việc liệu gen có được biểu hiện hay không. Tức là nó cho biết có bao nhiêu người mang gen đó được biểu hiện ra kiểu hình. Mức độ biểu hiện có thể hoàn thành (100%) hoặc không hoàn toàn (ví dụ 50% mức độ biểu hiện ~ chỉ một nửa số người mang gen có biểu hiện tính trạng).

Mức độ biểu hiện xác định mức độ ảnh hưởng của một đặc điểm hoặc bao nhiêu đặc điểm của một đặc điểm xuất hiện ở một cá nhân. Biểu thức, có thể dao động theo tỷ lệ phần trăm từ toàn bộ đến từng phần, thậm chí có thể không rõ ràng. Nhiều yếu tố khác, bao gồm biến đổi gen, tiếp xúc với các chất độc hại, ảnh hưởng môi trường khác và tuổi tác đều có thể ảnh hưởng đến biểu hiện.

Mức độ biểu hiện và ngoại cảnh khác nhau ở: Cá thể mang gen có hoặc không mang tính trạng và ở cá thể mang gen, tính trạng có thể biến đổi.

Gen bao gồm DNA. Chiều dài gen xác định chiều dài của protein được mã hóa bởi gen. DNA là một chuỗi xoắn kép trong đó các nucleotide (bazơ) được liên kết với nhau:

DNA được phiên mã trong quá trình tổng hợp protein, nơi một sợi DNA đóng vai trò như khuôn mẫu để tổng hợp RNA thông tin (mRNA). RNA có cùng bazơ với DNA, ngoại trừ uracil (U) thay thế thymine (T). mRNA di chuyển từ nhân đến tế bào chất và sau đó đến ribosome, nơi tổng hợp protein diễn ra. RNA vận chuyển (tRNA) mang axit amin đến ribosome và gắn axit amin vào chuỗi polypeptit đang phát triển theo trình tự do mRNA xác định. Khi một chuỗi axit amin được lắp ráp, nó sẽ tự gấp và xoắn để tạo ra một cấu trúc protein ba chiều phức tạp dưới tác động của các phân tử đồng hành lân cận.

ADN được mã hoá bằng mã bộ ba, chứa 3 trong số 4 nuclêôtit A, T, G, C. Các axit amin cụ thể được mã hoá bằng mã bộ ba cụ thể. Vì có 4 nucleotit nên số bộ ba mã có thể có là 43 (64). Tuy nhiên, chỉ có 20 axit amin nên có một số mã bộ ba dư thừa. Do đó, một số mã bộ ba mã hóa cùng một axit amin. Các bộ ba khác có thể mã hóa các yếu tố bắt đầu hoặc kết thúc quá trình tổng hợp protein và sự sắp xếp và lắp ráp các axit amin.

Gen bao gồm exon và intron. Exons mã cho các axit amin tạo nên protein. Intron chứa thông tin chi phối việc kiểm soát và tốc độ sản xuất protein. Exon và intron đều được phiên mã thành mRNA, nhưng các đoạn được phiên mã từ intron sau đó sẽ bị loại bỏ. Nhiều yếu tố điều chỉnh quá trình phiên mã, bao gồm RNA đối mã, được tổng hợp từ sợi DNA không được mã hóa thành mRNA. Ngoài DNA, nhiễm sắc thể chứa histone và các protein khác cũng ảnh hưởng đến sự biểu hiện gen (protein và số lượng protein được tổng hợp từ một gen nhất định).

Kiểu gen chỉ ra thành phần và trình tự gen cụ thể; nó quy định những protein nào được mã hóa để tạo ra.

Đối nghịch, bộ gen đề cập đến toàn bộ thành phần của nhiễm sắc thể đơn bội, bao gồm cả các gen mà chúng chứa.

Kiểu hình đề cập đến biểu hiện vật lý, sinh hóa và sinh lý của một người – nghĩa là cách các tế bào (hoặc cơ thể) hoạt động. Kiểu hình được xác định bởi kiểu và số lượng tổng hợp protein, tức là cách các gen được biểu hiện trong môi trường. Kiểu gen cụ thể có thể có hoặc không tương quan tốt với kiểu hình.

Biểu hiện đề cập đến việc điều chỉnh thông tin được mã hóa trong gen được dịch mã từ phân tử (thường là protein hoặc ARN). Sự biểu hiện của gen phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tính trạng là trội hay lặn, mức độ biểu hiện và biểu hiện của gen (xem Các yếu tố ảnh hưởng đến sự biểu hiện của gen). Các yếu tố ảnh hưởng đến sự biểu hiện gen ), mức độ biệt hóa của mô (được xác định bởi loại mô và tuổi), các yếu tố môi trường, giới tính hoặc sự bất hoạt nhiễm sắc thể, và các yếu tố chưa biết khác.

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự biểu hiện gen mà không làm thay đổi trình tự bộ gen được gọi là các yếu tố biểu sinh.

Sự hiểu biết về nhiều cơ chế sinh hóa điều hòa sự biểu hiện gen ngày càng rõ ràng. Một cơ chế là thay đổi nối exon (còn được gọi là sự trưởng thành mRNA). Trong mRNA mới được tổng hợp, các intron bị loại bỏ, mỗi đoạn exon được tách ra, và sau đó các exon tập hợp theo các trật tự khác nhau, dẫn đến nhiều loại mRNA và khả năng dịch mã. mã cho nhiều protein từ cùng một mã di truyền ban đầu. Lượng protein được tổng hợp trong cơ thể người có thể lên đến> 100.000 mặc dù bộ gen người chỉ chứa khoảng 20.000 gen.

Các cơ chế khác qua trung gian biểu hiện gen bao gồm phản ứng methyl hóa DNA và histone như methyl hóa và acetyl hóa. Sự methyl hóa DNA có xu hướng làm bất hoạt một gen. Sợi DNA được cuộn quanh hình cầu histone. Sự methyl hóa histone có thể làm tăng hoặc giảm lượng protein được tổng hợp từ một gen cụ thể. Quá trình acetyl hóa histone liên quan đến việc giảm biểu hiện gen ra bên ngoài. Sợi DNA không được phiên mã để tạo thành mRNA cũng có thể được sử dụng làm khuôn tổng hợp RNA, kiểm soát sự phiên mã của sợi đối diện.

Một cơ chế quan trọng khác liên quan đến các microRNA (miRNA). Các miRNA ngắn, hình kẹp tóc (chuỗi RNA liên kết với nhau) RNA này ức chế sự biểu hiện của gen sau khi phiên mã. MiRNA có thể tham gia vào quá trình điều hòa tới 60% protein được phiên mã.

Bài viết được chia sẻ bởi biquyet.com

Leave a Reply

Your email address will not be published.