Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược nước ta. Sau Hiệp ước Pateros (1884), triều đình nhà Nguyễn đầu hàng Pháp.

– Năm 1897 Pháp bắt tay vào công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, Sau năm 1918 là chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai với quy mô và tốc độ lớn hơn lần trước.

Chính trị: Thực dân Pháp đã tước bỏ quyền lực đối nội, đối ngoại của phong kiến ​​nhà Nguyễn và lợi dụng chế độ phong kiến ​​cũ để áp bức nhân dân Việt Nam. Họ chia Việt Nam thành ba nước: Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ và họ thực hiện một chế độ cai trị riêng trong từng thời kỳ.

Thuộc kinh tế: Thực dân Pháp cướp đất lập đồn điền; bỏ vốn để khai thác tài nguyên (than, thiếc, kẽm), xây dựng một số cơ sở công nghiệp (điện, nước) Xây dựng hệ thống đường bộ, đường thuỷ, hải cảng phục vụ chính sách khai thác thuộc địa của nước Pháp.

Nền kinh tế Việt Nam ngày càng nghèo nàn, lạc hậu, què quặt và lệ thuộc vào kinh tế Pháp.

Về văn hóa

– Thực dân Pháp thực hiện chính sách văn hoá giáo dục thuộc địa: dung túng và duy trì những hủ tục lạc hậu…

– Nghiêm cấm và hủy hoại bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam. Cấm các nền văn hóa tiến bộ của thế giới du nhập vào Việt Nam.

* Thực trạng giai cấp và những mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam:

Các cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến tình hình xã hội Việt Nam. Sự phân chia giai cấp ngày càng sâu sắc.

+ Giai cấp địa chủ Việt Nam: Giai cấp địa chủ cấu kết với thực dân Pháp gia tăng bóc lột, áp bức nông dân. Tuy nhiên, trong nội bộ địa chủ Việt Nam lúc này có một bộ phận, một bộ phận địa chủ có lòng yêu nước, căm thù giặc, tham gia đấu tranh chống lại

ĐỌC: Sự ra đời và hoạt động của Tân Việt Cách mạng Đảng

– Phật pháp dưới các hình thức và mức độ khác nhau.

+ Giai cấp nông dân: chiếm 90% dân số Việt Nam. Họ phải chịu hai tầng áp bức, bóc lột của thực dân và phong kiến. Tình cảnh khốn cùng, bần cùng của giai cấp nông dân Việt Nam càng làm tăng thêm lòng căm thù đế quốc, phong kiến, ý chí cách mạng của họ trong cuộc đấu tranh giành lại ruộng đất và quyền sống tự do.

+ Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của TDP. Có đủ các đặc điểm của giai cấp công nhân quốc tế (là lực lượng xã hội tiên tiến, đại diện cho phương thức sản xuất mới, tiến bộ, có ý thức tổ chức và kỷ luật cao; có tinh thần cách mạng triệt để)

Ngoài ra, giai cấp công nhân Việt Nam còn có những đặc điểm riêng

– Chịu 3 giai cấp áp bức, bóc lột (địa chủ, đế quốc, tư sản)

– Có mối quan hệ thân thiết với nông dân

– Nội bộ thuần nhất (ra đời trước giai cấp tư sản) không có giai cấp quý tộc

– Có tinh thần yêu nước nồng nàn, đồng thời tiếp thu những tư tưởng, xu hướng mới của thời đại vô sản.

+ Giai cấp tư sản Việt Nam: Bao gồm giai cấp tư sản công nghiệp, tư sản thương nghiệp, tư sản nông nghiệp. Ngay từ khi mới ra đời, giai cấp tư sản Việt Nam đã bị áp bức, thế lực kinh tế và địa vị chính trị của giai cấp tư sản Việt Nam nhỏ bé, yếu kém nên giai cấp tư sản không đủ tư cách lãnh đạo cách mạng dân tộc.

+ Tầng lớp tiểu tư sản Việt Nam: Bao gồm học sinh, trí thức, thợ thủ công, người làm nghề tự do … trong đó tầng lớp trí thức, học sinh là một bộ phận quan trọng của giai cấp tiểu tư sản. Đời sống của giai cấp tiểu tư sản Việt Nam bấp bênh, dễ bị phá sản. Họ là những người yêu nước, căm thù chủ nghĩa đế quốc, thực dân, chịu tác động của những tư tưởng tiến bộ từ bên ngoài nên đây là lực lượng có tinh thần cách mạng cao.

Bản tóm tắt:

Chính sách thống trị của thực dân Pháp đã tác động mạnh mẽ đến xã hội Việt Nam trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Đặc biệt là sự ra đời của hai giai cấp mới là công nhân và giai cấp tư sản Việt Nam, cả hai đều mang thân phận của những người dân mất nước, bị thực dân bóc lột.

– Xã hội Việt Nam tồn tại hai mâu thuẫn cơ bản. Trước hết là mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp và bè lũ tay sai, đây là mâu thuẫn chủ yếu và là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam mà chủ yếu là nông dân và địa chủ phong kiến.

– Nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam: Độc lập dân tộc và người cày có ruộng là hai yêu cầu cơ bản của xã hội Việt Nam, mà độc lập dân tộc là yêu cầu chủ yếu trước mắt, thể hiện nguyện vọng cấp thiết của nhân dân Việt Nam. giai cấp, tầng lớp trong dân tộc

[Tổng: 2 Trung bình: 4.5]

Sau khi hoàn thành cơ bản việc bình định bằng quân sự, thực dân Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa quy mô lớn ở Việt Nam. Do đó, qua nội dung bài viết dưới đây, hãy cùng tìm hiểu về chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp?

Tổ chức bộ máy nhà nước

Thực dân Pháp thành lập Liên bang Đông Dương gồm Việt Nam, Campuchia, Lào do một Toàn quyền Pháp đứng đầu.

Việt Nam bị chia thành ba quốc gia với ba chế độ cai trị khác nhau: Bắc Kỳ thuộc chế độ nửa bảo hộ, Trung Kỳ thuộc chế độ bảo hộ và Nam Kỳ thuộc chế độ thuộc địa. Mỗi xứ gồm nhiều tỉnh, đứng đầu xứ và tỉnh là quan Pháp. Dưới tỉnh là phủ, huyện và châu.

Đơn vị hành chính cơ bản ở Việt Nam vẫn là làng, do các cơ quan địa phương quản lý. Bộ máy chính quyền từ trung ương đến cơ sở đều do thực dân Pháp thống trị.

Chính sách điều hành kinh tế

Thực dân Pháp đẩy mạnh việc chiếm đoạt ruộng đất, chỉ riêng ở Bắc Kỳ năm 1092 đã có 182.000 ha ruộng đất bị Pháp chiếm, riêng Công giáo đã chiếm 1/4 diện tích người cày được ở Nam Kỳ. Địa chủ mới vẫn áp dụng hình thức bóc lột nông dân theo kiểu cày thuê, thu tô như địa chủ Việt Nam.

Về công nghiệp, thực dân Pháp trước hết tập trung vào khai thác than và kim loại. Chỉ tính riêng năm 1912, sản lượng than đã tăng gấp đôi so với năm 1903. Năm 1922, Pháp đã khai thác hàng vạn tấn quặng kẽm, hàng trăm tấn thiếc, đồng, hàng trăm kg vàng bạc. .

Sau công nghiệp khai khoáng là các ngành sản xuất xi măng, gạch ngói, điện nước, chế biến gỗ, xay xát gạo, giấy, diêm. Rượu, đường, vải… cũng mang lại cho họ nguồn lợi nhuận khổng lồ.

Thực dân Pháp xây dựng hệ thống giao thông để tăng cường khai thác kinh tế và dễ dàng đàn áp các cuộc đấu tranh của nhân dân.

Đường bộ đến các nơi xa xôi, đường thủy ven biển và kênh rạch ở Nam Kỳ đều được khai thác triệt để. Đến năm 1912, hệ thống đường sắt ở Việt Nam có tổng chiều dài là 2059 km.

Để giữ thế độc quyền trên thị trường Việt Nam, hàng hóa của Pháp nhập khẩu vào Việt Nam chỉ bị đánh thuế rất nhẹ hoặc được miễn thuế. Trong khi đó, hàng hóa trong nước sản xuất hoặc nhập khẩu từ các nước đều phải chịu thuế suất rất cao, có mặt hàng lên tới 120% nên phần lớn hàng hóa do Việt Nam sản xuất chủ yếu xuất khẩu. qua Pháp.

Ngoài ra, Pháp còn đánh thuế mới, chồng lên các loại thuế cũ đã có trước khi Pháp can thiệp vào Việt Nam. Nặng nhất là thuế muối, thuế rượu, thuế thuốc phiện, chúng còn bắt dân làm đường, đào sông, xây cầu, dinh thự, pháo đài …

Chính sách văn hóa, giáo dục

Cho đến năm 1919, Pháp vẫn duy trì hệ thống giáo dục của thời kỳ phong kiến, nhưng trong một số kỳ thi, môn tiếng Pháp sẽ được thêm vào. Sau đó, do nhu cầu học tập của con em các quan chức thuộc địa và cũng như tạo ra một tầng lớp cho người bản xứ để phục vụ cho công việc của các nhà cầm quyền tương lai, chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương bắt đầu mở thêm nhiều trường học mới và một số cơ sở văn hóa, y tế. cơ sở.

Kể từ đó, hệ thống giáo dục phổ thông được chia thành ba cấp độ:

– Ấu học ở các làng, xã, chú trọng dạy chữ Hán, chữ Quốc ngữ;

– Trường tiểu học ở phủ, huyện tập trung dạy chữ Hán, chữ Quốc ngữ, tiếng Pháp được xác định là môn học tự nguyện;

– Ở cấp trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh dạy chữ Hán, chữ Quốc ngữ, tiếng Pháp là các môn học bắt buộc.

Chính sách kinh tế của thực dân pháp là gì?

Những thay đổi trong xã hội Việt Nam

Dưới ảnh hưởng của cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam có nhiều thay đổi như sau:

1 / Ở nông thôn

Giai cấp địa chủ phong kiến ​​đầu hàng, chấp nhận làm tay sai cho thực dân Pháp với số lượng ngày càng nhanh. Một bộ phận đã cấu kết với đế quốc đàn áp, bóc lột nhân dân. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận địa chủ vừa và nhỏ có tinh thần yêu nước.

Những điều này đã khiến cuộc sống của người dân ngày càng khốn khó. Họ bị tước hết ruộng đất, phải chịu nhiều thứ thuế vô lý và vô số phụ phí của làng xã,

Nông dân bị phá sản, một số ở lại quê làm thuê cho địa chủ, một số bỏ đi làm đầy tớ cho đồn điền của Pháp, một số khác lên thành phố kiếm sống bằng các nghề phụ như hớt tóc, kéo xe … Số còn lại được làm việc trong các nhà máy và hầm mỏ của tư bản Pháp và Việt Nam.

2 / Tại Tp.

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, các đô thị Việt Nam ra đời và ngày càng phát triển. Ngoài Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn – Chợ Lớn còn có Nam Định, Hòn Gai, Vinh, Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn …

Với sự phát triển của thành phố, giai cấp tư sản đầu tiên xuất hiện. Họ là nhà thầu, đại lý, chủ nhà máy, chủ xưởng thủ công, đa số là các công ty thương mại. Họ bị tư bản Pháp áp bức, chính quyền thực dân bóp nghẹt. Tuy nhiên, vì còn phụ thuộc và yếu kém về kinh tế nên họ chỉ muốn có những thay đổi nhỏ để dễ làm ăn và sinh sống.

Ngoài ra, một giai cấp lớn cũng xuất hiện trong thời kỳ này, đó là tầng lớp tiểu tư sản thành thị. Họ là chủ các xưởng thủ công, tiểu thương, cán bộ cấp thấp như thông ngôn, giáo viên, thư ký … đời sống của họ khá hơn một chút so với nông dân, công nhân và dân nghèo thành thị. thị trường, nhưng vẫn rất bấp bênh. Họ là những người có ý thức dân tộc, nhất là giáo viên, thanh niên, học sinh nên đã tích cực tham gia các cuộc vận động cứu nước đầu thế kỷ XX.

Công thương nghiệp phát triển nên cũng kéo theo sự hình thành của lực lượng lao động. Họ chủ yếu xuất thân từ nông dân, không có ruộng đất nên phải tìm đến các hầm mỏ, xí nghiệp, đồn điền … Công nhân và gia đình bị thực dân phong kiến ​​và tư sản bóc lột nên sớm có tinh thần. Chúa đấu tranh mạnh mẽ với các ông chủ, yêu cầu cải thiện điều kiện làm việc và sinh hoạt như tăng lương, giảm giờ làm …

Với nội dung bài viết trên, chúng tôi đã lý giải cho bạn về Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp? Mọi thắc mắc về vấn đề này vui lòng liên hệ hotline 19006557 để được hỗ trợ trực tiếp.

Bài viết được chia sẻ bởi biquyet.com

Leave a Reply

Your email address will not be published.