Sau Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (27-1-1973), quân đội Mỹ phải rút về nước, so sánh lực lượng ở miền Nam ngày càng có lợi cho cách mạng. Cuối năm 1974, Bộ Chính trị họp bàn quyết tâm và thông qua kế hoạch giải phóng miền Nam thống nhất đất nước trong hai năm 1975-1976. Bộ Chính trị dự kiến: Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì giải phóng ngay miền Nam trong năm 1975, đồng thời quyết định chọn Tây Nguyên làm hướng tiến công chủ yếu trong năm 1975. Chiến thắng Phước Long (ngày) 6/1/1975) tạo cơ sở để Bộ Chính trị tăng cường quyết tâm chiến lược, bổ sung, hoàn thiện kế hoạch giải phóng hoàn toàn miền Nam trong năm 1975.

Theo đó, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta ở miền Nam diễn ra từ ngày 4-3 đến 30-4-1975, với ba chiến dịch lớn:

Chiến dịch Tây Nguyên: diễn ra từ ngày 4 đến ngày 24 tháng 3 năm 1975. Sau các trận đánh nghi binh đánh vào Bắc Tây Nguyên (Kon Tum, Pleiku), ngày 10 tháng 3, ta tiến hành trận then chốt tiến công Buôn Ma Thuột. Sau 20 ngày đêm chiến đấu, ngày 24/3/1975, chiến dịch Tây Nguyên thắng lợi hoàn toàn. Ta đã tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ Quân đoàn 2, Quân khu II, đánh bại cuộc phản công của Sư đoàn 23 ngụy, giải phóng Tây Nguyên, nhanh chóng mở rộng ra các tỉnh duyên hải miền Trung.

Chiến dịch Huế – Đà Nẵng: diễn ra từ ngày 5 tháng 3 đến ngày 29 tháng 3 năm 1975. Chiến dịch bao gồm ba chiến dịch con được tiến hành trùng nhau: Chiến dịch Trị Thiên, Chiến dịch Nam Ngãi và Chiến dịch Đà Nẵng. Ngày 26 tháng 3 năm 1975, Huế được giải phóng. Ngày 29 tháng 3, Đà Nẵng được giải phóng. Chiến dịch đã tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ Quân đoàn I và Quân khu I ngụy.

Chiến dịch mở đầu cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975

Quân Giải phóng đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất

Sau chiến thắng vang dội giải phóng Tây Nguyên, Huế – Đà Nẵng, tận dụng thời cơ chiến lược, với phương châm “đánh nhanh, táo bạo, quyết thắng”, quân và dân ta đã giải phóng hoàn toàn các tỉnh duyên hải miền Trung. , đánh tan các tuyến phòng thủ Phan Rang, Xuân Lộc, tiến sát Sài Gòn, Gia Định.

Chiến dịch Hồ Chí Minh: diễn ra từ ngày 26 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975. Ngày 1 tháng 4 năm 1975, Bộ Chính trị quyết định thành lập Bộ Chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn – Gia Định; Ngày 14 tháng 4, được thống nhất đổi tên thành Chiến dịch Hồ Chí Minh theo đề nghị của Bộ Tư lệnh Chiến dịch. 5 giờ ngày 26-4, quân ta nổ súng mở màn Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Cả 5 cánh quân từ các hướng xuyên thủng tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch tiến vào Sài Gòn. 10 giờ 45 phút ngày 30/4, xe tăng của ta tiến vào Dinh Độc Lập, bắt sống toàn bộ chính quyền Sài Gòn. Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. 11 giờ 30 phút cùng ngày, lá cờ cách mạng phấp phới trên nóc Dinh Độc Lập, báo hiệu toàn thắng của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, kết thúc hoàn toàn cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước lâu dài, gian khổ. dân tộc.

Cùng với các chiến dịch trên toàn miền Nam, từ ngày 14 đến 29-4-1975, quân ta đã giải phóng các đảo thuộc quần đảo Trường Sa.

Nguyên Mạnh (tổng hợp)

Chiến dịch mở đầu cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975

Xe tăng của Quân giải phóng tấn công địch trong chiến dịch Tây Nguyên tháng 3 năm 1975. Ảnh: TTXVN

Do có vị trí chiến lược quan trọng, mùa xuân năm 1975, Tây Nguyên được chọn làm hướng đột phá chiến lược cho cuộc tổng tiến công theo kế hoạch hai năm giải phóng miền Nam, trong đó Nam Tây Nguyên là địa bàn thuận lợi để tiến công. . thực hiện ý đồ ban đầu là giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột làm bàn đạp.

Để thực hiện kế hoạch chiến lược này, trong khi địch triển khai lực lượng mạnh ở phía bắc Tây Nguyên thì khu vực phía nam lại mỏng hơn (gồm Sư đoàn 23 bộ binh, 7 tiểu đoàn biệt kích, 36 tiểu đoàn bảo an). lực lượng bảo an, 4 trung đoàn thiết giáp, 230 khẩu pháo, 150 máy bay thuộc Quân đoàn 2, Quân khu 2, ta tập trung lực lượng áp đảo ở khu vực trọng điểm (5 sư đoàn bộ binh 10, 320, 316, 3, 968 và 14 trung đoàn pháo binh). , biệt kích, phòng không, xe tăng, công binh, thông tin và lực lượng vũ trang địa phương) với tỷ lệ địch áp đảo là bộ binh 5/1, pháo lớn 2/1, xe tăng 2/1.

Bộ Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên (mật danh A275) được thành lập (05/02/1975) do Trung tướng Hoàng Minh Thảo làm Tư lệnh; Chiến dịch cơ bản có 4 bước với 3 trận đánh then chốt.

Theo đó, từ ngày 4-9 / 3/1975, cắt giao thông trên các đường 14, 19, 21, tiêu diệt các chi khu quân sự (Cẩm Ga, Buôn Hồ, Đức Lập …) bộ phận chiến lược của địch ở Tây Nguyên, cô lập Buôn Ma Thuột. .

Từ ngày 10-11 / 3/1975, trận đánh mở đầu được thực hiện, sử dụng sức mạnh của các lực lượng vũ trang tạo thành cuộc tiến công quy mô lớn giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột, phá thế chiến lược của địch, tạo đột biến. về chiến lược, mở ra cơ hội mới.

Từ ngày 12 đến ngày 17 tháng 3 năm 1975, thực hiện trận đánh then chốt quan trọng đập tan cuộc phản công của Sư đoàn 23 và quân cứu viện nhằm chiếm lại Buôn Ma Thuột, giữ vững thành quả, đẩy địch vào tình thế hiểm nghèo. phản ứng một cách thụ động từ sai lầm này sang sai lầm khác.

Từ ngày 17 đến ngày 24 tháng 3 năm 1975, thực hiện trận đánh quyết định truy kích Quân đoàn 2 Quân khu 2 của địch, biến đường rút lui trên đường 7 thành cuộc tháo chạy hỗn loạn và bị địch tiêu diệt gọn. tiêu diệt và giải phóng hoàn toàn toàn bộ Tây Nguyên.

Chỉ trong 20 ngày (4-24 / 3), chiến thắng Tây Nguyên không chỉ giải quyết hàng loạt mục tiêu quân sự, chính trị trên chiến trường chiến lược quan trọng này, mà còn tạo cơ sở, điều kiện thuận lợi cho Tây Nguyên phát triển. chiến dịch (ra các tỉnh duyên hải miền Trung, mở đầu là chiến dịch Huế – Đà Nẵng) và mở ra thời cơ chiến lược để Bộ Chính trị kịp thời bổ sung quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam ngay trong năm 1975.

Có thể thấy, chưa có chiến dịch nào trong chiến tranh hiện đại, Quân đội ta sử dụng linh hoạt, sáng tạo nhiều hình thức tác chiến như chiến dịch Tây Nguyên: chia cắt giao thông, đánh thị xã, chi viện, đánh địch. phản kích, đánh địch rút lui; tổ chức nghi binh tạo thế trận, thu hút, cầm chân chủ lực địch ở hướng thứ yếu (bắc Tây Nguyên), tập trung tạo ưu thế quân sự trên hướng chủ yếu (nam Tây Nguyên), bao vây chia cắt từng cụm cứ điểm, kết hợp đột phá. bằng thọc sâu, thọc sâu, hiệp đồng binh lực, đánh từ trong ra ngoài, phá vỡ hệ thống phòng thủ kiên cố của địch, kéo chúng ra khỏi công sự kiên cố để tiêu diệt, hoạt động tiến công tiêu diệt địch khi tháo chạy …

Tính đến ngày 3/4/1975 (một tháng mở màn chiến dịch Tây Nguyên), quân và dân ta đã tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ Quân đoàn 2 của Quân khu 2, loại hơn 120.000 quân ra khỏi vòng chiến đấu. , bắt và phá hủy hàng trăm máy bay, hàng nghìn phương tiện quân sự, giải phóng hơn 60.000 đồng bào các dân tộc ở 5 tỉnh (Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Phú Bổn, Quảng Đức) và một số tỉnh ven biển. Duyên hải Nam Trung bộ (Phú Yên, Khánh Hòa). Phía Hoa Kỳ thừa nhận rằng các cuộc tấn công ở Tây Nguyên của Quân Giải phóng là “đòn tấn công nguy hiểm không có cách chống trả và không có phép thuật nào phục hồi”.

Chiến dịch Tây Nguyên kết thúc đã làm thay đổi cơ bản so sánh lực lượng và thế trận chiến lược trên toàn chiến trường miền Nam. Trong đó, ta có vùng chiến lược rộng lớn Tây Nguyên làm bàn đạp vững chắc, cơ động, chiếm lĩnh các địa hình, thế hiểm để tiến công xuống ven biển miền Trung, mở ra hành lang chiến lược thuận lợi để tiến công. Sài Gòn, đánh vào sào huyệt cuối cùng của địch.

Hệ thống phòng thủ của địch bị phá vỡ. Chiến trường miền Nam bị chia cắt thành hai cụm (Huế-Đà Nẵng và Sài Gòn), chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng hòa nhanh chóng sụp đổ và tan rã về chiến lược, dẫn đến co lại và sụp đổ hoàn toàn. hoàn toàn bị động.

Trên toàn chiến trường miền Nam, mặc dù so sánh lực lượng địch còn rất mạnh nhưng không thể chi viện cho Tây Nguyên do chúng bị trấn giữ ở hai đầu chiến tuyến. Ở Tây Nguyên, lực lượng Quân đoàn 2 của địch vẫn còn nguyên nhưng bị “vô hiệu hóa” vì bị chia cắt, khống chế. Tại Buôn Ma Thuột, địch lâm vào tình thế bị cô lập hoàn toàn, lực lượng mỏng, yếu, ít chi viện cho nhau và bị thất bại nặng nề.

Chiến thắng ở Tây Nguyên làm lung lay chiến lược của địch, đưa chiến tranh chuyển sang bước ngoặt quyết định; mở ra thời cơ cho cuộc tổng tiến công chiến lược trên toàn miền Nam, phát triển thành cuộc tổng tiến công và nổi dậy, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Trước sự phát triển đột biến về thế và lực, dẫn đến thời cơ chiến lược đến nhanh và chín muồi, ngày 25-3-1975, Bộ Chính trị họp nhận định: “Trong 20 năm chống Mỹ, cứu nước. đất nước. Nó chưa bao giờ thuận tiện như bây giờ. ” Kể từ đó, Bộ Chính trị đã đi đến ba quyết định quan trọng.

Một là thực hiện quyết tâm “chớp thời cơ chiến lược mới, tranh thủ thời cơ tốt nhất, nhanh chóng tập trung lực lượng, vũ khí, kỹ thuật trên hướng chủ yếu, hành động táo bạo, bất ngờ, làm cho địch không kịp trở tay, giải phóng miền Nam. trước mùa mưa ”.

Hai là thành lập Hội đồng chi viện cho miền Nam với nhiệm vụ động viên, vận động, vận chuyển sức người, sức của, đáp ứng kịp thời mọi yêu cầu của miền Nam trong tình hình mới.

Thứ ba, quyết định mở Mặt trận Quảng-Đà (mật danh Mặt trận 475) tiêu diệt toàn bộ quân địch co cụm ở mục tiêu chủ yếu là Đà Nẵng, khai thông hành lang ven biển miền Trung, tạo điều kiện thuận lợi cho quân dân. Chúng ta giáng đòn cuối cùng vào Sài Gòn.

Đồng chí Lê Duẩn trong “Thư gửi miền Nam” ngày 27-3-1975 đã chỉ đạo: “Chiến thắng vĩ đại ở Buôn Ma Thuột và Tây Nguyên đã tạo thời cơ giải phóng Đà Nẵng … Trong lúc này, thời cơ là lực lượng của chúng ta. phải hành động hết sức táo bạo, bất ngờ, không để địch phản ứng kịp ”.

Sáu ngày sau (31-3-1975), Bộ Chính trị họp và nhận định: “Chiến tranh cách mạng ở miền Nam không chỉ bước vào giai đoạn phát triển nhảy vọt, mà còn có thời cơ để mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy. khởi nghĩa ở Sài Gòn đã chín muồi, từ đây trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của quân và dân ta đã bắt đầu ”.

Tình huống diễn ra đúng như lời Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp khi giao nhiệm vụ cho Bộ Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên đã dự đoán và chỉ đạo: “Phải theo dõi, nắm chắc tình hình, tình huống có thể xảy ra đột biến, chủ động hành động, không chờ lệnh cấp trên, thời cơ có thể đến rất nhanh, không chần chừ, chậm trễ ”.

Trung tướng, GS Hoàng Minh Thảo, Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên, trong cuốn “Chiến dịch Tây Nguyên đại thắng” đã viết: “Chiến thắng Tây Nguyên mở đầu cuộc Tổng tiến công mùa Xuân năm 1975, tạo nên sức mạnh mới toàn diện. điều quan trọng là đã tạo ra sự chuyển biến căn bản về tinh thần, tư tưởng, so sánh lực lượng, thế trận chiến lược giữa ta và địch.

Chiến dịch mở đầu cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975

Căn cứ Đức Lập bị quân Giải phóng tiêu diệt. Ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

Các trận then chốt trong chiến dịch Tây Nguyên đã mở đầu đòn chiến lược tháng 3-1975, tạo điều kiện và thời cơ mới cho những trận then chốt mới của các chiến dịch liên tiếp giành thắng lợi to lớn hơn của quân và dân ta. . Với thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên và những quyết sách của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, từ thắng lợi vĩ đại đó đã mở ra bước ngoặt quyết định đưa cuộc tổng tiến công mùa Xuân năm 1975 đi đến thắng lợi toàn diện. .

Hà Minh Hồng

Bài viết được chia sẻ bởi biquyet.com

Avatar of mrmy_hn

By mrmy_hn

Leave a Reply

Your email address will not be published.